Showing posts with label Tản văn. Show all posts
Showing posts with label Tản văn. Show all posts

Tuesday, September 11, 2012

HỮU CẦU TẤT KHỔ


Trong Tứ diệu đế  ( bốn chân lý nhiệm màu) để giải thoát, mở đầu là khổ đế ( chân lý về sự phổ biến, tuyệt đối và triệt để của cái khổ). Trong khổ đế mở đầu là  cầu bất đắc khổ , tức là  mong muốn, truy cầu mà không đạt được là một loại khổ. Cái này phổ biến, dễ hiểu, có lẽ không cần chứng minh. Ta mong muốn điều gì mà không đạt được, không thể đạt được, hay không toại nguyện là nguồn của đau khổ và chính nó là khổ. Sự  cầu thật đa dạng, có nhu cầu về cả vật chất, tinh thần,cầu cho cá nhân, cho xã hội, cho chúng sinh... Cầu thực chất cũng là nhân dục, một cách gọi khác của nhân dục. Nhân dục càng lớn, cái khổ càng nhiều. Cái sự được như ý ở đời này có bao nhiêu?

Theo đó, cầu mà đạt được thì sẽ sướng, cầu đắc thì sung sướng, hoan lạc? Chưa chắc. Ngẫm ra, cầu được cũng có thể vẫn khổ. Khi ta theo đuổi điều gì thì mong nó đạt tới, nhưng biết đâu cái đạt được đó lại là nguyên nhân của những cái khổ khác. Mong có cái ô tô, được nó biết đâu lại là nguyên nhân của tai nạn chết người nào đó. Kẻ cầu quan cao chức trọng, biết đâu làm quan lại khổ hơn, mong làm dân mà không được nữa. Người ta đôi khi đạt được rồi, sinh ra thỏa mãn, hết động lực, trống rỗng, lại rơi vào bi kịch khác... Đó là chưa nói tới chuyện, cầu mà đạt được thì cái cầu tiếp theo sẽ to lớn hơn cái cầu trước và là nguyên nhân cho cái khổ lớn hơn. Cho nên bổ sung thêm cho Tứ diệu đế rằng : Cầu đắc diệc khổ ( cầu được cũng khổ).

Phương án của Đạo gia: thiểu tư quả dục, tư tưởng ít, nhân dục ít là cách để hạn chế khổ, điều này có vẻ khả thi. Khổ đã không tránh thì cố gắng làm cho nó bớt bớt đi. Ít cầu  đi thì bớt khổ đi, vì được cũng khổ, không được cũng khổ mà. Nho gia chủ trương điều tiết kiềm chế nhân dục, cho nhân dục khoảng tự do trong khuôn khổ, chỉ thích cái được phép làm thực chất là kiềm chế,  điều tiết cả sự sung sướng và sự khổ, không được sướng quá, không để rơi vào trạng thái khổ quá.  Điều này đối với những người thích hưởng lạc và tự do phóng khoáng thì hẳn là không thích thú gì, nhưng nhìn từ góc độ xã hội và với tính hiệu quả thực tế của nó thì không phải không hữu ích. 

Người xưa theo đạo thượng thừa Thiền, luyện tâm để đạt tới Vô cầu ( không truy cầu theo đuổi bất cứ điều gì để đạt tới an lạc). Cầu bất đắc khổ, cầu đắc diệc khổ,  vô cầu nhi lạc. Vô cầu là đã gần tới tâm không.

Vô cầu là đắc đạo rồi. Nhưng làm thế nào để Vô cầu? Theo đuổi sự vô cầu mà không phù hợp với tâm tính  và sở nguyện của ta thì mong muốn Vô cầu lại thành ra một thứ  cầu  vô cùng khó đạt và có khi đó là nguồn của một cái khổ lớn.  Làm phàm nhân ở đời chắc vẫn phải cầu thôi. Cầu mà đắc đừng lấy thế làm vui quá, cầu bất đắc cũng đừng lấy thế làm khổ quá, tự điều tiết được chút nào tốt chút đó, nhậm vận tùy duyên đành vậy. 

11.9.2012 
Nguyễn Kim Sơn


Thursday, August 23, 2012

TÍNH HỮU ÍCH CỦA CÁI VÔ DỤNG

Phật giáo luận giải về sự khổ rất đa dạng, có tứ khổ, thập khổ, bát khổ, nội khổ, ngoại khổ cho tới bát bách khổ, vạn khổ... Tức là rất khổ tâm luận về khổ. Nhưng trong các luận giải về khổ vô cùng phong phú đó không thấy cái khổ vì hữu dụng, hay hữu ích. Cũng có thể nó nằm trong " ngũ uẩn thịnh khổ".

Lão tử và Trang tử thì lại đặc biệt chú ý tới cái khổ mà nguyên nhân của nó chính từ sự hữu dụng. Các vị đó nhìn sự hữu dụng như là một thứ nguy cơ, một mối nguy hiểm tiềm năng đe dọa kẻ có nó. Con vật nào thịt ngon thì bị người ta lùng bắt và giết. Cao xương hổ tốt cho gân cốt người dùng nên chúng bị săn bắt ráo riết. Sừng tê giác hữu dụng hơn nữa khiến chúng cũng bên bờ vực tuyệt chủng. Hoa dại thơm và đẹp dễ bị người ngắt hái. Tiếng hót hay của chim là nguyên nhân khiến chúng vào lồng, và mật của gấu,  lông của nhím, ngà của voi...đã làm hại chủ nhân của chúng. Kẻ nào chẳng may bị người khác khen là thông minh, giỏi giang có thể lời khen ấy khiến hắn có thêm vô số kẻ thù. Và kẻ lỗi lạc không thể có số phận bình thường. Ai biết cái gì khổ với cái đó. Không biết làm gì, đầu óc ngu si, hưởng trọn thái bình. Cái Vô dụng mới là điều mà Đạo gia sùng thượng, đề cao, coi đó như một thứ đạo. Đạo để biến mình thành vô dụng, biết cách vô dụng.

Cái vô dụng có từ thuyết của Lão tử, Lão tử trọng ngu, trọng vô ích,   phản đối trí tuệ, càng ngu càng tốt. Lão tử cho cái khôn ngoan là biết đặt mình dưới người, đặt mình sau người. Đang ở cao thì mau xuống thấp, đang ở trước biết ẩn ra sau. Không tiến, không lên, không cao, không đại mà thoái, xuống, ẩn, tàng. Nó đều chỉ cái vô dụng. Triết lý vô dụng của Lão tử có gốc từ triết học tự nhiên của ông. Đạo tạo ra mà không dấu vết, cho không kể công, mẫu mực hơn hết mà không tuyên bố về sự mẫu mực đó.

Vô dụng trong thuyết Lão tử là chỉ cái tự nhiên, thuận tự nhiên, hữu dụng được đưa về phạm trù cái nhân vi. Hữu dụng, tranh, cạnh, xảo,... thuộc về nhân vi. Thực ra cái ngu chân chính mà Lão tử đề cao nhất là loại cái ngu là đỉnh cao của trí tuệ, tức bậc trí giả biết cách làm cho mình như ngu " đại trí nhược ngu". Tức cái ngu chủ động, ngu siêu việt trí chứ không phải ngu thuần túy là ngu. Lão tử bằng vô dụng để mong đạt tới cái đại dụng, đó là bảo thân, duy trì sinh mệnh, hài hòa, xã hội không cạnh tranh, ai ai cũng nhường nhịn, không có chiến tranh... từ đó mà thủ tiêu những tai họa đe dọa con người.  

Trang tử đẩy mạnh quan niệm về cái vô dụng trong phương diện triết lý nhân sinh. Con rùa lết cái đuôi nơi ngòi rãnh để hưởng hết tuổi trời là  tượng trưng cho cái vô dụng. Con rùa được người ta mang về để chết khô nơi chốn miếu đường,   trên bàn thờ thần thỉnh thoảng bị người ta lấy một mảnh mai để cúng, bói là biểu tượng cho sự hữu dụng. Cái cây Vu cây Lịch, nhờ phẩm chất vô dụng, gỗ không dùng được vào việc gì, mùi vị thì hôi thối... nên nó được yên và cao mãi tới nghìn dặm. Vô dụng, theo Lão - Trang có cái  đặc biệt hữu ích của nó.

Từ góc nhìn hiện đại, đề cao vô dụng có cái quái gở của nó. Nó là phản tiến bộ, phản giáo dục, phản nhiều thứ.  Nhưng không phải mọi sự quái gở đều vô lý cả. Thực hư thế nào, tùy nghi chiêm nghiệm.
           22.8.2012

Thursday, August 09, 2012

VÀI CHUYỆN TẢN MẠN CÓ LIÊN QUAN TỚI NGƯỜI NHẬT BẢN

Có mấy mẩu chuyện vụn vặt nghe được chỗ này chỗ kia, kể lại để ... mà kể.

1. Tôi có một anh bạn người Nhật, anh ấy là giáo sư của Đại học Tokyo. Chúng tôi có một thời gian cùng làm việc tại một viện nghiên cứu, buổi trưa chúng tôi thường cùng ăn trong nhà bếp. Ai cũng có phần thức ăn mang theo. Ngày nào cũng giống như ngày nào, tôi thấy anh bạn Nhật lấy bọc thức ăn ra từ trong balo. Đó là chiếc khăn trắng buộc chéo hai góc rất cân đối. Anh ấy thường rất thong thả mở chiếc khăn, lấy chiếc hộp gỗ rất vuông, gỗ rất đẹp, trong có nhiều ngăn. Một ngăn đựng cơm và mấy ngăn còn lại đựng thức ăn. Cơm của anh ấy luôn đóng từng miếng vuông như cơm nắm của dân đi cày. Anh ấy có một đôi đũa bằng kim loại, có khớp nối ở giữa có thể gập mở như con dao nhíp. Sau mỗi bữa ăn, anh ấy rửa đồ đạc ngay, rồi lấy giấy lau chúng rất lâu, rất tỉ mỉ gấp chúng lại, sau cho vào hộp, lại gói lại, buộc hai góc cân đối và đẹp như ban đầu. Anh ấy  tập trung vào công việc của bữa ăn như đang tọa thiền. Bữa ăn, các dụng cụ, từng động tác như biểu thị của một loại công nghệ cao.

 2. Một người khác kể lại cho tôi nghe như sau:  Tôi (người kể cho tôi) từng xem một anh bạn người Mỹ đứng in mấy tờ handout cho một lớp sinh viên  do anh ấy dạy học, tôi thấy anh ấy cứ in đi in lại vì phát hiện ra sai chỗ này sai chỗ kia, dù chỉ là một dấu câu bé tí. Tôi bảo, sao không dùng bút chì thêm vào cho nhanh. Anh bạn ấy đáp: "Sinh viên tớ dạy là người Nhật. Tớ phải làm việc với người Nhật."

3. Xe Mercedes của nước Đức lắp ráp tại Nhật Bản giá thành bán cao hơn nhập nguyên chiếc từ chính hãng. Lý do vì người nhật tin vào công nhân Nhật trong quá trình lắp ráp hơn bất kỳ ai.

4. Có một món bánh truyền thống của người Nhật ( không thể nhớ được tên bánh). Món này trước khi ăn nhất định phải tưới nước sốt. Đó là một thứ vừa ngọt vừa chua, có người ăn bánh đó thì thích nhưng riêng cái vị nước sốt thêm vào kia thì không. Người đó yêu cầu đừng cho nước sốt vào, nhưng người bán hàng không bao giờ nghe. Lý do vì phải có nước sốt đó thì mới thành bánh đó, thế mới đúng với thông báo bán hàng. Người mua ( một giáo sư Việt Nam) đành bó tay, vẫn luôn phải mua với cả nước sốt rồi mang ra một chỗ, tìm cách gạt chúng đi trước khi ăn. Cũng có đôi lần rỗi rãi và cộng với nhiệt tình, người bán hàng có giúp đỡ vị giáo sư kia gạt bỏ nước sốt. Nhưng đừng hy vọng lần sau anh ta không cho vào.

Ngày 7.8.2012 trong lúc ngồi rỗi ở sân bay Narita/ Tokyo

Tuesday, June 05, 2012

Lễ chùa ở Đài Loan


Người Đài Loan sùng Phật, điều đó chúng khẩu đã đồng từ. Ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo tới đời sống người Đài Loan có thể nhận thấy một cách sinh động ở sự hiện hữu của các quán ăn chay tại khắp mọi nơi. Tỷ lệ người ăn chay ở đây rất cao (thấy thế nhưng chưa tìm được con số thống kê cụ thể). Công nghệ chế tạo đồ ăn chay của Đài Loan đứng hàng đầu thế giới. Số người đi lễ chùa và tham gia các hoạt động tôn giáo đương nhiên là rất nhiều.

Long Sơn là một ngôi chùa lớn và nổi tiếng ở Đài Bắc. Bản nhân có cơ duyên được lui tới chùa này nhiều lần, tại hầu hết các chuyến đi sang Đài Bắc. Xin có vài lời bình luận và mấy tấm hình để mọi người tham khảo về cách quản lý và đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh của người Đài, để cùng chiêm nghiệm.


Photobucket
Cổng chùa Long Sơn, Đài Bắc
Một ngày bình thường, không phải rằm hay mồng một, nhưng người đi lễ ở đây rất đông. Khói hương nghi ngút, người ta cắm hương ở ngoài trời mà không cắm hương ở trong nội điện. Người lễ cầm hương vái khắp nơi, lầm rầm những điều chỉ có họ và Thần Phật biết. Họ hướng lên không trung mà lễ chứ không chỉ hướng vào phía những pho tượng tôn nghiêm. Hương đốt được phát không cho người lễ và phát với số lượng vừa đủ, không gây ra cảnh khói quá lớn.


Photobucket


Đồ lễ Phật cần qua công đoạn tẩy rửa sạch sẽ trước khi bày lên đĩa. Chùa có khu riêng để thỏa mãn nhu cầu này của người lễ. 

Photobucket
Nơi rửa quả, có dòng chữ nhắc nhở "Xin hãy tiết kiệm nước"

Đồ lễ của người Đài nhìn chung giản dị, chay tịnh, một đĩa hoa, chút quả, bánh trái, không có cảnh đưa lên bàn thờ mọi thứ có thể ăn được, uống được và mua được ngoài chợ. 

Photobucket

Photobucket

Người ta hay dùng những lẵng hoa nhỏ để cúng Phật. Trên lẵng hoa cài những tấm thiếp, ghi tên người cúng lễ và điều mà họ cầu cúng. Đây chính là hình thức viết sớ thời hiện đại, đẹp, lịch sự và tiên tiến. 

Photobucket

Photobucket

Số lễ vật được bày cúng rất nhiều, ban thờ trong nội điện không thể đủ chỗ để bày. Lễ vật được bày ra những dãy bàn rất lớn ngoài sân. Đặt đồ lễ lên các bàn đó là được, không cần chen nhau bẹp ruột để đặt đồ lễ vào trong nhà. Phật nhìn thấu mọi lòng thành. 


Photobucket


Nếu nhìn vào lễ cúng Phật, người ta dễ lầm tưởng người Đài nghèo khổ. Người đến lễ không trọng đồ lễ to, mà trọng ở việc tụng kinh. Xung quanh bảo điện có vô số ghế và chỗ đặt sách để người tới lễ có thể tụng kinh được. Nhiều người vừa lần tràng hạt vừa nhìn như thôi miên vào một chai nước trong để cầu khấn (bản nhân chưa hiểu hết lý do và ý nghĩa).


Photobucket

Photobucket

Photobucket

Người đi lễ cũng thích coi thẻ, xem quẻ để đoán vận. Những đồng âm dương là những mảnh gỗ, tựa như hai miếng hạt điều phóng to, sơn đỏ.

Photobucket


Người lễ sẽ lấy hai mảnh gỗ này, ấp vào lòng bàn tay để truyền tinh thần và điều thỉnh nguyện của mình vào đó, rồi tung xuống đất. Nếu sấp ngửa là đã được thần Phật đồng ý và có thể rút lấy một thẻ tre. Ống đựng thẻ cao tới ngang người. Mỗi thẻ tre dài khoảng 80 cm. 

Photobucket

Photobucket

Không thấy người ta bày tiền phơi phới khắp nơi hay dắt tiền lên tay tượng, mình tượng. Nghe nói người ta công đức tiền chủ yếu thông qua chuyển khoản. Cũng không thấy nhạc cúng xập xình. Không có chuyện lấy nhầm đồ lễ của nhau một cách cố ý. Người đi lễ đông, nhưng không chen lấn nhau. Người già yếu cũng có thể tới đây lễ không sợ chết bẹp do chen lấn hay cướp giật, trộm cắp, chặt chém, môi giới lễ bái.

Phật chỉ có một, nhưng sự lễ Phật thì không như vậy.

Thursday, May 31, 2012

Tự ngã


Trong thời đại cạnh tranh khốc liệt, các cá thể muốn giữ được chỗ đứng của mình trong xã hội, trên nữa muốn phát triển, vươn tới đều phải không ngừng phát triển mình, phải không ngừng vươn lên, không ngừng hoàn thiện mình. Người ta phải nhìn ra xung quanh, xem thiên hạ như thế nào, xem người khác thay đổi và phát triển ra sao, cái nhìn đó nhằm tới sự hiểu người. Nhưng sự hiểu người này, cũng rất dễ gây ra những tác động tiêu cực trong việc phấn đấu của người muốn phát triển mình.

Nhìn người có mấy khả năng xảy ra. Khả năng thứ nhất là ta giống mọi người, mọi người giống ta, mọi người hay ta cũng hay, mọi người dở ta cũng dở, người tiến ta tiến, dàn hàng ngang vui vẻ cả. Khả năng này rất khó xảy ra thực tế. Khả năng thứ hai là ta may, hoặc không may rơi vào một tập thể toàn những thành viên kém hơn ta. Ta buộc phải thành kẻ xuất sắc nhất trong số đó. Khả năng thứ ba cũng do không may hoặc may mắn ta rơi vào một nơi mà ở đó toàn những kẻ hơn ta. Nhìn chỗ nào cũng thấy mình kém họ, thấy ai cũng hơn mình. Khả năng thứ tư là ta tồn tại trong cộng đồng có kẻ hơn mình, có kẻ kém mình, có kẻ học theo mình và có kẻ mình cần học theo.

Trong trường hợp đầu tiêu và cuối cùng, sự ứng xử có lẽ không có gì khó khăn lắm. Vấn đề là ở hai trường hợp còn lại. Làm thế nào để tồn tại cùng những kẻ kém hơn mình mà mình vẫn không tự mãn, không nhụt chí, vẫn có thể tiến bộ? Làm thế nào để trong tập thể mà toàn những kẻ hơn ta, ta vẫn không thấy ngạt thở, không mất tự tin, không thấy mặc cảm, vẫn có thể tìm đường để vươn tới. Lấy gì làm chỗ dựa, làm thước đo? Có lẽ chỉ hướng phản quan tự kỷ bản phận sự vô cầu tha đắc (quay về nhìn nhận chính bản thân mình là việc căn cốt đừng truy tìm và không thể tìm thấy cái mình cần tìn ở nơi ngoài mình) theo tinh thần Phật giáo, hay tự ngã thực hiện theo tinh thần của Nho gia là hữu ích cho các trường hợp này.

Lấy chính mình làm chỗ dựa, lấy mình làm tiêu chuẩn. Muốn biết mình có tiến bộ hay không, không có tiêu chí nào tốt hơn chính mình. Miệt mài học tập, nhưng so với hôm qua không thấy mình khá hơn chút nào thì ấy là đáng lo ngại. Mỗi người tư chất khác nhau nên việc tích lũy kiến thức và tốc độ trưởng thành cũng cần khác nhau. Vấn đề quan trọng là tôi luôn cố gắng, trong sự chậm chạp của mình, tôi thấy tôi đang tiến bộ lên, tôi sẽ yên tâm về sự tiến bộ của mình. Nếu tôi rơi vào chỗ toàn những kẻ kém hơn tôi, tôi vẫn cần không ngừng phấn đấu, người ta khen tôi mặc họ, hôm sau tôi phải tốt hơn tôi ngày hôm qua. Làm được như vậy, môi trường toàn những kẻ kém cỏi không phải là một sự cản trở đối với tôi, nó không khiến tôi dễ thỏa mãn và thoái chí. Nếu tôi rơi vào hoàn cảnh toàn những người hơn tôi, tôi có thể tạm kém họ, nhưng nếu với sự quyết tâm và tốc độ tích lũy không ngừng, tháng sau tốt hơn tháng trước, giỏi lên một cách đều đặn thì cứ như vậy, cứ như vậy, bền bỉ và bền bỉ, một ngày nào đó tôi cũng sẽ trở thành một người như họ. Khi tôi chưa bằng người ta tôi vẫn không thấy hốt hoảng bởi một lẽ tôi đang dần tự thay đổi theo chiều tốt.

Nói như vậy không có nghĩa mình chỉ biết có mình và nhìn mình, đó chỉ là một sự nhấn mạnh. Trong sự cạnh tranh và so sánh, thường thì cái nhìn về phía người khác, sự so sánh với người khác dễ dàng tạo ra những tác động lớn tới mình. Trong mọi trường hợp, nhìn về chính bản thân mình là hết sức quan trọng. Tự ngã thực hiện thực chất là tự đánh giá để có tự tin mà thực hiện, không gì khác.

Cảm thán của một ngày chăm chú nhìn...

Quốc tế thiếu nhi 1.6.2012

Friday, May 18, 2012

Sao mà nhiều thế?


Photobucket
Thoát khổ từ khi chưa nếm mùi khổ (ảnh chụp lại, không rõ nguồn gốc)

Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang các nước Đông Á để lại cho mỗi nước một diện mạo riêng, nói chung chẳng đâu giống đâu. Thái Lan, Lào và Campuchia có xu hướng Phật giáo tiểu thừa. Khung cảnh tự viện với những mái chùa sơn thếp vàng vút cao cùng một số rất ít các pho tượng kích cỡ khổng lồ nằm ngồi đủ các tư thế chiếm phần lớn không gian thờ tự là hình ảnh hay gặp tại các quốc gia Phật giáo này.


Photobucket
Vàng dùng trong kiến trúc Phật giáo

Nhưng thế giới quả là rộng lớn và vẫn tiềm chứa nhiều điều bất ngờ. Ở một số địa phương tại Lào, người ta lại có phong tục, ai muốn cầu khấn Phật điều gì, họ sẽ mua một pho tượng Phật nhỏ (bằng các loại chất liệu khác nhau, chủ yếu là bằng đồng), rồi mang lên chùa đặt vào một vị trí quy định để biểu thị sự sùng kính với Phật và cầu điều mình mong muốn.

Photobucket
Hãy đếm thử

Có những pho tượng chỉ nhỏ bằng ngón tay út, thậm chí còn nhỏ hơn. Điều này khiến cho nhiều ngôi chùa có số lượng tượng Phật lên tới hàng ngàn. Vô số những pho tượng tí xíu vây quanh những pho tượng đồ sộ.

Photobucket
Kỷ lục về số tượng trong một chùa


Cảnh tượng này cũng giống như rừng bát hương hay ảnh người chết được đưa vào ăn mày cửa Phật tại các ngôi chùa miền Bắc Việt Nam.

Luang Prabang 10.5.2012

Bonus:


Photobucket
Nếm thì ngon, lành hay không  chưa biết :)

Photobucket
Vật trang trí nhà cửa

Photobucket
Có thể Lào là nước sản xuất chỉ nhiều nhất thế giới để... buộc vào cổ tay nhau

Photobucket
Dòng Mekong chảy qua nhiều núi nhưng lại ít thác ghềnh


Photobucket
"Hãy chuyển lòng thành kính thành sức mạnh để nâng viên đá này lên ngang mặt 5 lần, điềm lành sẽ tới"
Photobucket
Làm việc ít thôi, để còn múa Lamvong 

Wednesday, February 08, 2012

Về tôn hiệu tiên hiền Chu Văn An




Hồi đầu năm 2011, trong một cuộc họp tại huyện Thanh Trì, một cán bộ địa phương khi giới thiệu về truyền thống của huyện có nói tới danh nho Chu Văn An với tôn hiệu Vạn thế sư biểu, ông nói rõ rằng, huyện ta tự hào vì có được đấng Vạn thế sư biểu Chu Văn An. Nghe thế tôi rất lấy làm lạ và  cho rằng có thể là nhầm lẫn của một người, nên cũng cho là không cần đính chính.

Photobucket
Ảnh do tác  giả tự chụp


Cách đây mấy hôm,  có dịp tới dâng hương tại đền thờ Chu Văn An, chính xác là tại Phượng Sơn linh từ, thấy 4 chữ Vạn thế sư biểu đắp to cỡ hàng mét vuông tô màu  vàng để tôn xưng Chu Văn An. Rồi khi nghe văn tế, chủ tế đọc rất rõ ràng nhiều lần tôn hiệu Vạn thế sư biểu Chu Văn An


Photobucket
Ảnh do tác giả tự chụp
Tới lúc đó tôi thực sự choáng. Có quá nhiều người biết rõ ràng rằng Vạn thế sư biểu (Bậc thầy của muôn đời) là tôn hiệu chỉ được tôn cho một người là Khổng Tử. Ngoài Văn miếu, nơi Đại Thành Điện có bức đại tự viết 4 chữ đó, biểu thị sự tôn vinh Khổng tử. Rất nhiều văn miếu các nơi trên thế giới đều có câu này, người ta cũng dùng cụm từ đó để chỉ Khổng Tử, chẳng hạn, “đấng Vạn thế sư biểu có nói rằng”... và ai cũng hiểu đó là Khổng Tử nói.  Vậy mà không hiểu sao nó lại được dùng để nói về Chu Văn An. Có lẽ cái nhầm bắt đầu từ khi bức họa Chu Văn An được đem đặt  trên bàn thờ ngay dưới đại tự “Vạn thế sư biểu” trong Văn miếu Hà Nội suốt một thời gian rất dài. Nó khiến người tới lễ cứ tưởng Đại Thành điện là nơi chỉ thờ riêng Chu Văn  An và bức đại tự đó thể hiện tôn hiệu vị tiên hiền họ Chu.

Tôi nói với ông thủ từ: “Bác ơi, Vạn thế sư biểu là tôn hiệu của Khổng Phu tử, sao bác lại dùng làm tôn hiệu Chu Văn An. Văn Trinh Công là nhà Nho chính trực, khảng khái, thuần Nho giữ lễ, chắc cụ không đời nào lạm nhận danh hiệu đó đâu, bác đừng gọi thế nữa. Chu Văn An cũng là bậc thầy vĩ đại, là người được tiên Nho tôn là “Thượng tường sơn đẩu”, “Truyền kinh chính học”...  Nếu như người Việt Nam mình muốn tôn Chu Văn An là bậc thầy của muôn đời đất Việt thì phải thêm hai từ nữa, thành Việt Nam Vạn thế sư biểu mới được”.

Ông thủ từ nghe tôi nói vậy thì bảo, đại ý: cái này phải báo cáo cấp trên phê duyệt mới được, tôi đọc theo quy định chứ không phải tự ý, các bác thông cảm. (?) 
Ngày 9, Tháng giêng, năm Nhâm Thìn


Wednesday, February 01, 2012

Cái chữ Nhẫn (忍)


Thư pháp của Chương Thiên Khiếu. Nguồn: ở đây

Ngày xuân, qua mấy nhà người quen, thấy nhà nào cũng treo một chữ Nhẫn viết chữ Hán với các trình độ viết, khả năng thư pháp thể hiện rất khác nhau. Thấy nhiều chữ Nhẫn quá mà tự nhiên không thể nhẫn được mà đành bày tỏ đôi dòng. Phải nói cái chữ Nhẫn thật hay. Nín nhịn, chịu đựng, nhường nhịn quả là có thể đem lại cho các quan hệ xã hội nhiều tác dụng to lớn. Chữ Hòa () quả khó đạt được nếu thiếu Nhẫn. Một cá nhân, một gia tộc, một cộng đồng mà biết Nhẫn thì tránh được nhiều điều rắc rối. Nhiều người đã làm cả thơ để diễn nghĩa, tán dương ý tứ sâu xa, tốt đẹp của cái chữ Nhẫn này, rồi thể hiện trên các chất liệu khác nhau, treo trên tường như một loại châm, minh tự răn tự giới. Cứ xem thời thế hiện nay, ra đường nhìn vào mặt nhau đã có thể gây án mạng vì bị quy kết là “nhìn đểu” thì mới thấy cái chữ Nhẫn nó hay đến thế nào. Có lẽ cũng không cần thêm lời ca ngợi sự tuyệt vời của tinh thần nhẫn nhịn nữa. Nhưng cứ nghĩ đi nghĩ lại, nếu một cộng đồng rộng lớn mà mọi người đều Nhẫn, cộng đồng đó là một cộng đồng vĩ đại, đáng kính nể, nhưng nó cũng là một cộng đồng có vấn đề và một cộng đồng tiềm chứa trong nó những nguy cơ tinh thần.


Photobucket
Thư pháp của Trần Đôn Tam. Nguồn: ở đây

Nhẫn có nghĩa là dồn nén, chế ước, áp chế, nhốt chặt cái bất bình, là dùng áp chế tinh thần để chịu đựng cái mà bình thường khó chịu hoặc không thể chịu. Nó là sự cố gắng chấp nhận cái khó chấp nhận. Nín nhịn để cho mọi việc được tốt đẹp. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là cái khó chịu, cái tức giận vẫn còn nguyên đó. Cái gì dồn nèn mãi cũng hại tâm hại khí. Điều này xem ra không có lợi cho sức khỏe. Cứ dồn mãi cái tức vào đó, tới lúc tức nước vỡ bờ, không nhẫn được nữa thì cái sự xả tức giận sẽ thật đáng sợ.


Photobucket
Thư pháp của Lưu Kế Vũ.  Nguồn: ở đây

Triết lý  Nhẫn có lẽ phù hợp với số đông và ở cấp độ thông thường thì nó không quá khó thực hành. Nó là một sự khôn ngoan dành cho cộng đồng. Đối với người tiềm tâm hơn vào việc dưỡng tâm và hy vọng có những ứng xử hiệu quả phù hợp với cá nhân cao hơn mặt bằng tinh thần số đông một chút thì có lẽ Nhẫn không vẫn chưa đủ. Cao hơn Nhẫn là phải biết hỷ xả, biết trút bỏ, phải triệt tiêu sự tồn tại của những nỗi niềm tức giận để nó không những tốt hơn cho quan hệ mà còn tốt cho cả mình.  Sự hóa giải mọi niềm phẫn uất để đạt tới an lạc, tự lạc, tự tại là cảnh giới tinh thần cao hơn Nhẫn. Không chỉ nín nhịn mà có thể mỉm cười với những điều có thể gây ra sự khó chịu bực tức. Như vậy chữ Lạc phải được đặt cao hơn Nhẫn một bậc. Muốn thế phải xả kỷ tòng nhân để không bực tức. Muốn thế phải giữ cho hư tâm như triết lý sống của người quân tử.

Suy cho cùng, Nhẫn hay Lạc hay trạng thái nào đi nữa cũng đều là  sản phẩm của sự tu dưỡng và tự chủ tinh thần, mỗi người với khả năng của mình nên cố gắng đạt tới trạng thái tốt nhất có thể theo một cách phù hợp. 

Monday, January 23, 2012

CƯ DI KHÍ, DƯỠNG DI THỂ


Ông Mạnh tử thời xưa có nói: “ Cư di khí, dưỡng di thể”. Đại ý câu này là cư trú có thể làm thay đổi khí chất, nuôi dưỡng có thể làm thay đổi thể chất  con người ta. Cái vế sau của câu thì ý tứ rất rõ. Ai cũng có thể dễ dàng hiểu được rằng: nuôi dưỡng, chăm sóc, chế độ dinh dưỡng có thể làm thay đổi thể chất của con người, có thể làm cho người gầy thành người béo, người khỏe thành người khỏe hơn, và cũng có thể biến người khỏe thành yếu, người yếu thành yếu hơn :). Cứ xem các cháu học sinh phổ thông nghỉ một tuần tết âm lịch xong cháu nào má cũng phính ra thì đủ thấy sự sinh động của  dưỡng di thể. Ông Mạnh tử nhiều lần tính toán về việc trồng cây nuôi gia súc để làm thế nào cho người già có thịt ăn và có áo lụa mặc. Xem ra ông cũng có khiếu về việc nhà nông và có tư chất nhà dinh dưỡng học. Nhưng có lẽ điều muốn bàn ở đây là cái ý tứ quan trọng ngụ ở vế trước của câu  nói.  Mạnh tử khẳng định khả năng thay đổi cả khí chất và thể chất của con người lệ thuộc vào nhân tố tác động bên ngoài.  
Thể chất chỉ trạng thái mạnh yếu của cơ thể sinh học con người. Còn khí chất chỉ loại tố chất tinh thần, chẳng hạn yếu ớt hay mạnh mẽ về tinh thần, nhút nhát hay hùng dũng, can đảm. Khí chất được đề cập ở đây không hẳn phải là tính nết, là thiên tính đạo đức mà là một chất lượng của thể trạng của tinh thần, quy mô tầm vóc của thể trạng tinh thần đó.  Câu  cư di khí, có thể hiểu theo một đại ý là: chỗ đứng, vị trí xã hội có liên hệ với khí chất của con người. Sự thay đổi và chuyển dời vị trí xã hội có thể kéo theo sự thay đổi về khí chất. Cũng là con người ấy, ngày hôm trước là anh  điền xá lang thì ăn nói rụt rè, không dám nói to, không dám nghĩ tới việc lớn. Nhưng hôm sau  đăng thiên tử đàng có thể lời nói của anh ta đã thêm phần gang thép, ăn nói hiên ngang, suy nghĩ hoằng đại, uy phong lẫm liệt, đi đứng hùng dũng. Hôm qua còn là học viên, dự hội thảo khoa học  thì nói năng thiếu tự tin, rào trước đón sau năm bẩy lần mới trộm nghĩ, lạm bàn vài câu. Nhưng vài hôm sau nhận bằng tiến sĩ, có thể vẫn là điều ngày hôm trước trình bày, nhưng nay thì  ăn nói hiên ngang:  theo tôi nghĩ thì phải là thế này, vấn đề này tôi là chuyên gia... Sự thay đổi chỗ đứng trong xã hội thực sự kéo theo sự chuyển đổi khí chất của con người, mà khí chất này tác động tới tư duy, tính toán, ứng xử, hành động và quan hệ. Cổ nhân nói “  miệng kẻ sang có gang có thép” cũng là một tổng kết thực tế về mối liên hệ giữa địa vị và khí chất.
Ngẫm ở đời, nếu sự thay đổi về môi trường làm việc, thay đổi về phạm vi ứng xử, tầm bao quát và quản lý không kéo theo sự điều chỉnh về những tố chất tinh thần tương ứng thì người ta không thể hoàn thành sứ mệnh của mình. Nhưng điều đáng bàn là những cái gì của con người ấy sẽ thay đổi theo cùng với cái khí chất ấy. Các nhà Nho nhiều thế kỷ trước công nguyên đã tỏ ra có lý khi lo lắng về điều này.  Ông Tử Cống, một đại gia trong số các học trò Khổng tử, từ nghèo hèn mà dần giàu có nhờ làm doanh nhân, thấy mình vẫn giữ được những phẩm chất tinh thần tốt đẹp, bèn tới hỏi thầy Khổng với ý khoe ngầm rằng:
Thưa thầy, có một người khi nghèo mà không nịnh, lúc giàu sang mà không kiêu căng thì thầy đánh giá về người ấy thế nào? ”.
Thầy Khổng bảo:
Cũng tạm được, nhưng chưa bằng  người khi nghèo mà vẫn an lạc thanh thản, lúc giàu sang mà vẫn hành động đúng theo lễ nghĩa”.
Với loại người thứ hai mà thầy Khổng nói tới ắt phải là bậc đắc đạo, tu tới độ nhuộm mà không đen được, mài mà không mòn được. Loại này khí chất cũng có thể thay đổi, nhưng nó là sự đổi thay trên nền tảng một trục tâm, một trường điều khiển bền vững, nó là sự biểu thị khả biến của cái lõi bất biến, đó là ĐẠO của nhà Nho. Có cái cốt đó, xuất nhập tiến thoái muôn hình vạn trạng mà không đánh mất mình, thiếu cái đó chỉ sớm chiều thay đổi, anh ta đã không còn là anh ta nữa. Thầy Mạnh tử nói tới những tính khả biến, tính dễ thay đổi của con người để lưu ý tới việc kẻ sĩ hiểu điều cần làm, hiểu rằng nhân tính khả tố để tự định liệu.
Cuộc đời nhiều thay đổi, người ta thực nhỏ bé như cánh cỏ bồng cỏ cảo trước gió, tìm chỗ bấu víu  tinh thần để trụ cho được trước phong ba quả là cần thiết nhưng chẳng phải dễ dàng.
Thể chất cũng có liên hệ  khăng khít với khí chất. Mỗi ngày cần ít nhất 30 phút để luyện  thể thao với niềm hy vọng: dưỡng di thể.
          ( Mồng một tết nguyên đán Nhâm Thìn, tức 23/1/2012 tây lịch. khai blog đầu xuân)

Saturday, December 17, 2011

VIỆC XUẤT THẾ, NHẬP THẾ CỦA ĐẠI TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG TRẦN NHÂN TÔNG




Gần đây sự nghiệp tu hành, tư tưởng, triết lý của Trần Nhân Tông được chú ý bàn luận khá nhiều. Đó cũng là một phần của xu hướng  Phật giáo và Phật học đang hưng thịnh tại Việt Nam. Đã có rất nhiều bài viết được công bố, sách được in và rất nhiều hội thảo được tổ chức. Có một vấn đề mà rất nhiều, rất rất nhiều bài viết nói tới, bàn luận và  ca ngợi, đó là tinh thần nhập thế của Trần Nhân Tông. Có người cho rằng cái tuyệt vời của ông chính là đi tu xuất gia như thế, vậy mà vẫn nhập thế, vẫn không quên đời, quên người, vẫn để lại dấu ấn trong chính trị, quân sự, ngoại giao…như vậy mới tuyệt vời, như vậy mới có điều kiện đóng góp cho lịch sử, cho dân tộc.
Việc ca ngợi như vậy đúng hay không đúng? Hay hay dở? Nên không nên? Câu hỏi này là một việc lớn cần thảo luận, bản nhân không dám hồ đồ, lạm bàn. Tuy nhiên bằng trực cảm  thì thấy có cái gì đó chưa thật ổn thỏa. Bản chất, tính khuynh hướng của Phật giáo là xuất thế hay nhập thế?  Phật giáo là xuất thế, là siêu thế. Phải xác định dứt khoát là thế. Còn xuất thế bằng cách nào, xuất thế không rời thế gian tướng, giải thoát không ngoài thế gian, từ thế gian, trong thế gian là một vấn đề thuộc cách thức. Niết bàn thị sinh tử, sinh tử thị niết bàn cũng không nằm ngoài lẽ làm thế nào để đạt tới Niết bàn. Đó đều là con đường và cách thức để xuất thế.  Giống như một câu chuyện Thiền, trước khi Thiền thấy bình trà tách trà là bình và tách, đang thiền thấy bình không còn là bình tách không còn là tách, Thiền định xong rồi bình trà lại vẫn là bình, tách vẫn lại là tách. Nó  là nó nhưng cũng không còn là nó. Việc nhập thế của người đã xuất thế tới hết mức thì rất khác với người chỉ biết có đời là đời.  "Thế" của người xuất thế mà nhập thế với " Thế" của người tại thế tuy một mà lại là hai, dẫu hai nhưng vẫn là một.
Trần Nhân Tông quả là có nhập thế, nhưng ông nhập thế sau khi đã siêu xuất, nhập thế để xuất thế, xuất thế mà nhập thế. Những bài ca ngợi về  ở trần vui đạo đều do cụ ngồi chốn Yên tử mà suy xét cả. Vấn đề ở chỗ ở đời mà vẫn vui đạo, đắc đạo rồi thì xuất nhập là một.
Ngu ý cho rằng, Trần Nhân Tông nhập thế thật, nhưng cái nhập thế đó cần hiểu như thế nào, cần đặt trong thiền  mà xét, không thể xem sự nhập thế đó cũng giống với việc nhập thế hành đạo kiểu Nho gia hoặc nhập thế là tại thế gian như người thường. Nếu chỉ có biết nhập thế là nhập thế thì có lẽ người bán cá bán rượu ở chợ, người tại gia không biết tới mùi Thiền là những người nhập thế nhất trên thế gian này chứ không phải đại lão hòa thượng Trần Nhân Tông.
                       Kính trọng đại lão hòa thượng vô ngần nên thấy e ngại với  cả những sự ca ngợi
                                                                                                                    17.12.2011


Tuesday, November 08, 2011

LÀM THẦY KHÓ, LÀM TRÒ CŨNG CHẲNG DỄ




Xưa nay người đi học đối với thầy và với học thuật của thầy tồn tại nhiều loại thái độ khác nhau. Trong trường hợp ông thầy là một học giả, một người có uy tín học thuật thì mối quan hệ  hay cách nhìn của học trò đối với đạo của thầy ( và đương nhiên là với cả thầy)  thường thể hiện thành vài loại thái độ:
Loại thái độ thứ nhất: càng học, càng đọc, càng theo thầy, càng nghiền ngẫm về đạo của thầy, càng hiểu càng thấy thầy mình cao vời vợi, càng nghe càng thấy thầy như Thái sơn Bắc đẩu sừng sững không thể và không cách gì với tới, chưa nói chuyện vượt qua. Học trò càng học càng  thấy mình nhỏ bé yếu đuối. Đây có thể là một cảm giác mà học trò đối mặt, cảm nhận thấy một cách nghiêm túc thực sự. Dĩ nhiên  đó cũng có thể là một biểu thị khiêm tốn, hoặc để tôn cao thầy. Cá biệt cũng  có người đề cao thầy chẳng phải vì thầy mà là một cách gián tiếp tôn cao mình. Các trường hợp này có thể tìm thấy khá phong phú trong lịch sử giáo dục.
Trong các học trò của Khổng phu tử, chúng ta biết người học trò được ông yêu quý nhất là Nhan Hồi. Nhan Hồi là cao đệ bậc nhất được Khổng tử công khai thừa nhận và không tiếc lời ngợi khen. Ông kỳ vọng Nhan Hồi có thể kế tục và phát triển được học thuyết của mình. Về phía Nhan Hồi, ông  tiếp thu tất cả những gì mà thầy truyền dạy,  những điều thầy dạy bảo đối với Nhan Hồi đều là chân lý, đều thiêng liêng. Ông “ mặc  nhi thức chi”  một cách tuyệt đối và tiếp nhận trong mọi trường hợp, ngấm một chiều và ngấm một cách tự nhiên, chỉ có hỏi thêm mà không thắc mắc. Cách tiếp thu của ông khiến nhiều người tưởng ông  là người ngu. Ông không hề thắc mắc hay phản ứng gì. Có người cho rằng có thể năng lực trác việt đã khiến ông tiếp nhận được và thấu triệt được tất thảy mọi sự truyền giảng phức tạp  nhất từ thầy, tương tự như cặp thầy trò Thích Ca – Ca Diếp với  câu chuyện về một nhành hoa bốn ánh mắt, hai nụ cười và một Thiền ngữ nổi tiếng.
 Nhan Hồi  nói về đạo của thầy: “Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu. Phu tử tuần tuần nhiên  thiện dụ nhân, bác ngã dĩ  văn ước ngã dĩ lễ, ký kiệt ngô tài nhi hữu sở lập trác nhĩ. Tuy dục tòng chi, mạt do dã dĩ” ( Luận ngữ. Tử hãn) ( Càng ngẩng trông càng thấy cao, đục đẽo vào càng thấy cứng, vừa thấy đằng trước, thoắt đã đằng sau. Phu tử giỏi dẫn dắt người từng  bước từng bước, lấy văn mã mở mang cho ta, lấy lễ mà ước thúc ta, ta đã vận dụng hết khả năng của mình mà vẫn thấy đạo của thầy sừng sững trước mặt. Ta muốn theo đạo đó, nhưng chắc chỉ được phần nào mà thôi)
 Trong lời Nhan Hồi tán dương đạo của thầy, ta thấy có cả tiếng thở dài bất lực của người học trò vĩ đại này. Nhà nho thường nói tới tinh thần Khổng Nhan lạc xứ, tức cái vui, cái lạc thú của Nho gia trong việc tu thân dưỡng tâm, trong cuộc sống nho môn đạm bạc, nhưng ở đây rõ ràng không phải lúc nào họ cũng vui, lúc nào cũng lạc cả, thế mới là cuộc đời. Chữ Lạc của Nho là nói về thái độ sống, là nói tới việc tu dưỡng, còn ở đây nhìn từ góc độ nhìn nhận và đối đãi với học thuyết của thầy, Nhan hồi có chút bi kịch, bi kịch của học trò bị ngợp trong học thuyết của thầy. Ông  cố gắng biến mình thành một hiện hữu sống của đạo đức theo mẫu mực mà Khổng tử mong muốn. Khổng tử khen Nhan Hồi là người hiếu học, chỉ duy nhất ông được khen như vậy. Khi Nhan Hồi chết, Khổng tử nói hiện không còn ai hiếu học nữa.     
Ông Trình Hạo đời Tống ca ngợi việc học của Nhan Hồi[1], kiên quyết cho rằng nếu ông không chết sớm thì rất có thể  sự học sẽ đưa ông tới sự chuyển hóa mà thành thánh nhân, tiếc rằng ông đã không sống được tới ngày đó, vì thế ông chỉ là bậc hiền giả mà thôi.  Nếu ông sống tiếp, có thể ông vẫn cứ thành thánh nhân với mẫu mực đạo đức tuyệt vời. Ta cũng không  biết  sau khi thành thánh nhân trông ông có tựa kẻ ngu nữa hay không. Nhưng cứ giả sử như Nhan Hồi  không chết sớm, sự tôn sùng đạo của thầy đã khiến ông không mảy may nghi ngờ, và vì thế khó có thể phát triển được học thuyết của thầy. Đã thấy đạo của thầy tận thiện tận mỹ thì hẳn sẽ không nghĩ tới việc thêm vào hay sửa đổi cho tốt thêm. 
 Khác với Nhan Hồi, Tăng Sâm lại là một mô thức khác hẳn. Ông  không được khen ngợi như Nhan Hồi, nhưng cũng được Khổng tử coi là học trò giỏi và thường giảng giải cho những điều cốt yếu. Tăng Sâm  không bị choáng ngợp trước thuyết của thầy, ông luôn tỏ ra chủ động nắm được điều cốt yếu, then chốt, điểm quán xuyết học thuyết của thầy. Luận ngữ  còn kể lại, một lần Khổng tử nói với Tăng Sâm rằng: “ Sâm hồ, ngô đạo nhất dĩ quán chi”. Tăng Sâm chỉ  khẽ “ dạ”. Khi thầy Khổng đi ra, những người khác hỏi Tăng Sâm rằng thầy vừa nói điều gì, Tăng Sâm  trả lời, đạo của thầy chẳng qua chỉ là  trung thứ mà thôi. Tăng Sâm đã liễu ngộ được điểm cốt yếu của đạo thầy.
Loại thái độ thứ hai:  Mới được thầy truyền cho chút ít đã thấy mình cũng chẳng kém ai, cũng vĩ đại rồi, tri thức nhân loại chỉ có chút thế mà thôi, ông ấy thì chẳng có gì là lớn cả. Nếu thực tế đạo của thầy chẳng ra gì thật thì không có gì phải bàn, nhưng cũng nên bày tỏ sự tôn trọng mà tìm người khác giỏi hơn để mà học. Nguy hiểm thực sự là kẻ được học người giỏi mà không thấy thầy hay, khinh mạn cho rằng mình hơn người, hơn thầy rồi.  
          Thái độ cầu học và đối đãi với sở học của thầy quả là không dễ dàng gì. Sùng kính thái quá mà thấy mình nhỏ bé đi cũng không nên. Khinh mạn, tự cao mà không biết tôn trọng thầy đương nhiên là khiếm khuyết về cả đạo đức lẫn trí tuệ.  Kẻ minh triết có lẽ là cần sáng suốt tự thủ, thầy dẫu thật giỏi cũng nên cố học, cố tìm cái gì còn có thể bổ khuyết để cầu tiến, thầy chưa thật giỏi thì cũng phải biết trân trọng những gì mà thầy đã tạo ra để làm thêm, để đi tiếp. Trân trọng những giá trị tri thức, tinh thần dù nhiều dù ít mà thế hệ trước tạo dựng, coi đó như nhũng viên gạch đặt nền cho ta cao thêm. Đương nhiên, làm được thế trò cũng không thể là loại xoàng, thầy cũng phải là người đáng làm thầy, đủ để dẫn dắt học trò.
Làm thầy khó, làm trò cũng chẳng dễ
                             (11.2011. Nhân đọc lại bài Nhan tử sở hiếu hà học luận )



[1] Xem :" Cận thư lục - Nhan tử sở hiếu hà học luận"

Tuesday, September 13, 2011

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ KHUẾCH ĐẠI NHÂN DỤC - thuyên thích mới về bốn chữ tâm truyền của Nho gia: “nhân tâm duy nguy” (人心維危)


Nhân dục là điều mà các tôn giáo đều quan tâm đặc biệt và có thái độ đối xử “rắn” đối với nó.  Phật giáo dứt khoát tuyên bố diệt dục. Những điều răn giới của Phật giáo hầu như đều có liên quan tới nhân dục. Nhân dục được xem là nguồn gốc của vạn khổ. Nho gia thì chủ trương kiểm soát, điều tiết, chế ước nhân dục, làm cho nhân dục phù hợp với quy phạm xã hội, mức độ cao nhất là đồng nhất nhân dục và Lễ (quy phạm xã hội). Các vị đại Nho đời Tống-Minh chủ trương tu dưỡng khắt khe nghiêm cẩn và chịu tác động của Phật giáo nên cũng  tuyên bố “tồn thiên lý diệt nhân dục”. Mười sáu chữ tâm truyền được coi là ấn quyết của Nho gia lần đầu nêu trong tác phẩm kinh điển Thượng thư đã lưu ý truyền đời về sự mong manh của nhân tâm rằng: Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung”. Duy chỉ có học thuyết của Đạo gia được xem là túng dục, tức buông cho nhân dục theo lẽ tự nhiên, không trói buộc. Tuy nhiên đó chỉ là ở nguyên lý coi trọng cái tự nhiên, còn trong phép tu dưỡng, Đạo gia cũng hướng tới trạng thái thanh tĩnh tự nhiên, hư tâm, tĩnh tâm, thiểu tư quả dục. Trạng thái ấy suy cho cùng cũng là thứ nhân dục có chừng mực, phù hợp với đạo tự nhiên vốn đã chí mỹ chí thiện chỉ cần bảo tồn nó. Các triết gia trong học thuyết của mình luôn tìm mọi cách hạn chế nhân dục để bảo vệ sự tồn tại bình ổn của xã hội, bình ổn cho thân tâm các cá nhân. Ai cũng hiểu rằng, nhân dục, quyền lợi của cá nhân và sự bình ổn xã hội, lợi ích xã hội luôn mâu thuẫn với nhau, trái chiều nhau.

Chỗ dựa của kinh tế thị trường chính là nhân dục, là cái mà người ta gọi là “thị hiếu của người tiêu dùng”. Chỉ cần quan sát một số chương trình quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng, ta thấy một sự mời chào vẫy gọi mãnh liệt đối với “thị hiếu” của dân chúng. Những ngôi nhà sang trọng đầy đủ tiện nghi, những chiếc xe hiện đại đời mới, những đồ dùng đa chức năng hấp dẫn, vvv…. được chào mời bằng những lời quảng cáo ngọt ngào còn hơn cả lời Bạch Cốt Tinh: hãy thử xem, chỉ một lần, hãy tận hưởng cuộc sốnghãy nếm thử, “cứ gọi là thôi rồi…sướng … ướng ư ử”… Khẩu hiệu của người sản xuất hàng hóa là: đã làm cho người tiêu dùng thích rồi, còn làm cho họ thích nữa, đã sướng rồi còn sướng nữa, tiện nghi rồi còn tiện nghi nữa, mát rồi còn mát nữa…Còn một loại hàng hóa khá đặc biệt khác với nhãn hiệu Number one thì treo một cái “status” hấp dẫn là “Thỏa sức yêu thương”… Những nhân viên nghiên cứu tâm lý người tiêu dùng thì đào từng ngóc ngách thị hiếu, xem người ta thích gì thì đánh vào chỗ đó. Và cứ thế, hàng ngày nhân dục được khai thác, được tận dụng, được khuếch trương, được lôi kéo và được làm thỏa mãn. Nền sản xuất hàng hóa nắm cái nhân dục cũng như người nông dân nắm cổ con trâu đã được xỏ mũi mà  lôi đi. Hôm nay thấy  bạn mình có cái váy đẹp mà mình chưa có, tối về thấy khổ sở mất mấy tiếng đồng hồ. Mai thấy bạn mình sắm được ô tô đẹp mà mình vẫn phải đi cái xe máy rách thấy vừa ghen tức, vừa khổ sở, vừa thèm khát. Và nỗi thống khổ giày vò họ ngày này sang ngày khác. Cầu bất đắc khổ, mà cầu thì biết bao giờ cho hết, cái cầu ngày hôm sau lớn hơn cái cầu ngày hôm trước, vì nhân dục đang được chăm sóc và nuôi cho lớn lên. Cầu  càng lớn, thì  bất đắc  cũng sẽ tăng theo. Nhu cầu lớn, khát khao nhiều mà không được làm thỏa mãn, không thể thỏa mãn dẫn tới thái độ thù ghét, hằn học với đời, với người. Ta nào có kém gì nó tại sao nó sướng thế còn ta thì không thể. Những quảng cáo vẫy gọi sự sung sướng là một sự hành xác với người nghèo, khiến người nghèo không thể yên với cái nghèo. Nếu như họ không phải là người có một bản lĩnh và chỗ dựa tinh thần, chỗ dựa văn hóa nhất định thì con đường hành ác, đạt tới mục tiêu có được giàu sang và đời sống tiện nghi bằng mọi giá là có thể xảy ra. Đó chính là khởi đầu cho con đường của tội ác. Thế mới thấy cái lý tưởng của ông Lão tử về một xã hội không trao đổi tiền bạc tưởng chừng lẩm cẩm cổ hủ Khốt ta bít mà lại có cái sâu sắc của bậc đại triết gia nhìn thấu nhân tâm. 

Chắc chắn rằng nền kinh tế thị trường có tác dụng vĩ đại đối với đời sống con người. Nhu cầu vật chất của con người được thoả mãn là công lao của nền kinh tế thị trường. Nó đóng góp vĩ đại trong việc đem lại hạnh phúc cho con người từ góc độ vật chất, cũng như nhu cầu tinh thần, cũng tức là đem hạnh phúc cho con người bằng cách  làm thỏa mãn ham muốn của con người. Nhưng có ai dám cam đoan rằng, con người của thế kỷ XXI ít khổ hơn con người của thời kỳ Đức Thích Ca Mâu Ni thấu ngộ được chân lý của khổ đế và dồn trí huệ sáng suốt của mình vào việc diệt khổ, giải thoát khỏi khổ. Cái thời kinh tế thị trường, nhân dục được đào sâu, được chăm sóc, được thỏa mãn, được vẫy gọi,  hình như cái khổ của nhân tâm con người lại càng phong phú hơn, càng đa dạng hơn, càng phức tạp hơn, càng nhiều cung bậc hơn. Nhân dục được đẩy lên, một khi  cá nhân không tự đáp ứng được, xã hội không đáp ứng được, thì lúc đó, chính nó là kẻ thù to lớn tàn phá nhân tâm và xã hội. Nó giống như con quái vật mà người ta nuôi làm thí nghiệm khi sổng ra khỏi vòng kiềm tỏa nhảy ra xã hội gây tội ác tương tự như nhiều bộ phim hành động rùng rợn của Mỹ đã tưởng tượng ra vậy.

Nhân dục bị thổi phồng và khuếch trương, chắc chắn khả năng kiềm tỏa và kiểm soát điều tiết cũng khó khăn hơn nhiều. Con người cũng vì kinh tế thị trường mà sướng hơn nhưng cũng vì thế mà nhiều thất vọng hơn, nhiều sự đổ vỡ hơn. Sự chuyển động của kinh tế thị trường nếu không có luật pháp nghiêm minh và cả sự điều tiết mang tính tôn giáo hữu hiệu, sự giáo dục về đạo đức xã hội được đẩy mạnh thì thảm họa đối với nhân tâm con người thực là khôn lường.
Thời mà người ta có thể  giữ tâm an lạc trong cái nghèo đã qua lâu rồi và thời người ta khổ sở trong cả cái giàu lẫn cái nghèo đang tới. Chỉ có bậc trí giả biết tự điều tiết cho nhân tâm mình, biết tri túc và trau dồi những tố chất văn hóa cần thiết, người ta mới có thể giữ cho mình một chữ “tại” ( tự tại) được.

Nhân tâm duy nguy

Hà Nội tháng 9/2011

Saturday, September 03, 2011

BÁN ĐỒ NHI PHẾ (nửa đường đứt gánh)



Trước khi bước vào một hành trình lâu dài  gian khổ, nhất là thực hiện một lý tưởng nào đó,  người ta thường có mấy loại thái độ:
- Thứ nhất, cảm thấy mong muốn được đi, được chinh phục, được dấn thân, bất chấp nguy nan, tự tin vào sức của mình, thấy không gì cản trở được khi mà mình đã có niềm tin, ý chí và năng lực.
- Thứ hai, vẫn có thể  đi vào đường ấy, nhưng tự mình thấy băn khoăn, thấy mình không đủ sức, thấy mình không đủ can đảm, thấy đường xa dặm thẳm phía trước mà toát mồ hôi. Thích thì vẫn thích nhưng đi mà lòng còn đầy phân vân.
Với loại thứ nhất có hai khả năng diễn ra, có kẻ giữa đường đổi thay thoái chí mà bỏ dở và có kẻ tới đích vẻ vang. Còn đối với loại thứ hai, chắc chắn họ không thể tới đích mong muốn. Loại thứ hai này người ta gọi là bán đồ nhi phế( nửa đường đứt gánh), sự đứt gánh giữa chừng của họ có thể nhìn thấy được từ trước khi họ hành động. Người mà trước khi bước vào hành trình mà đã thấy mình không đủ sức để tới đích, điều đó có nghĩa  là họ đã tự đặt ra giới hạn cho mình.
Con đường xa dặm thẳm ấy, đối với người muốn làm giàu, muốn tới đỉnh cao của khoa học, muốn thực hiện một lý tưởng nhân văn, muốn dựng một lâu đài của tri thức, muốn thực hiện một lý tưởng mang tính tôn giáo…cũng đều giống nhau.
Ngẫm câu :
Nam nhi tự hữu xung thiên chí,
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”
của đại lão hòa thượng Quảng Nghiêm đời Lý  thì thấy người tu Thiền cũng phải hùng tâm tráng chí biết bao mới có thể  tự mình chứng ngộ mà tự giải thoát được cho mình.
Có những sinh viên nói với thầy rằng: thầy ơi, “đạo” của thầy em thấy hay lắm, thích lắm, nhưng mà chắc em không thể đủ sức để theo.
Có em thì than thở rằng, em cũng thích theo đuổi lý tưởng cao viễn, muốn lao vào con đường khoa học, con đường nghiên cứu để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và hy vọng đóng góp cho đời chút ít, nhưng em phải lo nhiều chuyện của cuộc sống cơm áo…
Có người thấy thầy đòi hỏi phải làm bài vở cho tốt hơn thì nói, thầy ơi, năng lực của em chỉ có thế, em chỉ viết được có thế thôi, thầy thông cảm, hay thầy hạ bớt yêu cầu đi, bài này em chỉ cốt cho xong thôi, em sẽ cố gắng lâu dài nữa…
Thường thì người bỏ cuộc luôn tìm được lý do hợp lý đủ sức thuyêt phục, bao biện hoặc an ủi được chính mình.

Sunday, August 28, 2011

GIẶC BẨN



 Người ta thường gọi những mối nguy cơ to lớn đối với dân tộc là GIẶC. Trong lịch sử Việt Nam, khái niệm giặc thường là để chỉ những lực lượng uy hiếp từ bên ngoài, đe dọa sự tồn vong của dân tộc, sự tồn tại của giống nòi. Năm 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh để nhấn mạnh những nguy cơ khác đe dọa sự tồn tại của dân tộc, ngoài giặc ngoại xâm, Cụ còn coi đóidốt cũng là những loại giặc,  “ giặc đói  và giặc dốt”, coi diệt các loại giặc này cũng cấp bách và hệ trọng không kém gì chống giặc ngoại xâm.
Ở thời điểm năm 2011 này, Việt Nam đang đứng trước một loại giặc khác cũng cực kỳ nguy hiểm, đó là GIẶC BẨN. Với những gì quan sát từ thực tế, từ các phương tiện thông tin đại chúng, ta đang thấy giặc bẩn hoành hành khắp nơi. Nó len lỏi vào tận thôn cùng xóm vắng, can dự vào cuộc sống của từng người. Nó có trong từng miếng ăn, ngụm nước uống, từng hơi thở. Nó ẩn hiện khắp nơi, có lúc nhìn thấy, ngửi thấy, cảm thấy. Nhưng cũng có chỗ có lúc phải dùng kính hiển vi mới tìm ra được.
 Nguồn nước bị nhiễm bẩn, nước thải công nghiệp đẩy tràn ra các dòng sông, thấm xuống lòng đất. Những khu vực khai mỏ gây ô nhiễm cho từng vùng rộng lớn.  Sản xuất nông nghiệp bị thực hiện theo quá trình bẩn trầm trọng. Người ta không còn nhổ cỏ như xưa mà dùng thuốc diệt cỏ để bảo vệ ngô và lúa. Những thức ăn tăng trọng dùng bừa bãi cho động vật, thuốc bảo vệ thực vật dùng vô tội vạ. Câu chuyện chè bẩn và dầu ăn thu hồi từ dưới cống khiến người ta không còn muốn ăn và uống một thứ gì nữa. Nhưng vẫn cứ phải ăn, vẫn cứ phải uống.
Bên lề những con đường quốc lộ, hay vào trong những lối xóm, đầu làng cuối phố, chỗ nào cũng thấy rác thải  đổ, rác tràn ngập, túi nilong bay trắng xóa khắp mọi nơi. Giữa cánh đồng lúa xanh mướt thơ mộng thỉnh thoảng lại mọc lên vài đống rác to như đống núi.
Vào mỗi buổi sáng, nếu ai đi trên con những con đường vào thủ đô, dẫu là đường Khuất Duy Tiến, Hồ Tùng Mậu, Phạm Hùng, hay Nguyễn Trãi … đều sẽ thấy dòng người đông nghìn nghịt di chuyển trong làn bụi như sương mù thành Luân Đôn. Cát đất quất vào mặt rát cả da, không khí đặc quánh bụi khiến người ta không muốn hít vào nữa, nhưng vẫn cứ phải hít vào.
Thỉnh thoảng xem ti vi lại thấy nói có những làng đàn ông chết gần hết vì bệnh ung thư, có những làng sống chung với ruồi muỗi và mùi ô nhiễm, có làng không biết uống bằng nước gì…
 Con dân đất Việt thực sự đang bị đầu độc, đầu độc lẫn nhau, tự đầu độc mình. Người nông dân sản xuất rau bẩn bán, để dành một đám sạch để gia đình mình ăn và lấy thế làm yên tâm. Người sản xuất nước uống pha hóa chất độc hại bán cho kẻ khác còn mình không uống là được. Một điều đơn giản mà chắc những người này họ cũng đều biết, đó là họ dành cái sạch để ăn, bán cái bẩn cho người khác, nhưng họ hàng ngày cũng đang tiêu thụ rất nhiều thứ do người khác sản xuất. Cái lợi đang kéo họ đi theo con đường của tội ác đối với cộng đồng và họ đã bất chấp tất  cả.  Luật pháp không nghiêm và  sự xử lý không kịp thời, không ráo riết từ những lực lượng quản lý là một nguyên nhân dẫn đến việc ô nhiễm môi trường sống. Tồn tại và phát triển,  so với phát triển để phát triển và phát triển bất chấp mọi thứ thì tồn tại phải xem là số một. Phát triển bền vững không nên chỉ là một khẩu hiệu.
Giặc ngoại xâm người ta dễ dàng nhận thấy. Tình yêu tổ quốc, yêu giống nòi khiến người ta dễ dàng và nhiệt thành bày tỏ tình cảm của mình và sẵn sàng hành động vì tổ quốc. Giặc bẩn đang hoành hành thì người ta chỉ biết thở than, mà không biết hành động một cách quyết liệt trên quy mô toàn xã hội để chống lại nó. Không thành một dư luận xã hội rộng lớn, quyết liệt để chống giặc bẩn, giống nòi người Việt đang bị hủy hoại, đang bị thui chột, đang bị tiêu diệt từng ngày. Sức hủy hoại của loại giặc này có thể lớn không kém, và ảnh hưởng còn có thể  lâu dài hơn cả bất kỳ loại giặc nào khác.
                             ( Nhất nhật phúc thống hữu cảm)

Sunday, June 26, 2011

BẢN LĨNH VĂN HÓA


Về một số  sự kiện có liên quan tới Nho giáo trong thập kỷ 70 thế kỷ XI ở Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư có ghi:
Canh Tuất, Thần Vũ nhị niên…Thu, bát nguyệt, tu Văn miếu, tố Khổng tử, Chu Công cập Tứ phối tượng, họa Thất thập  nhị hiền tượng, tứ thời hưởng tự. Hoàng thái tử lâm  học yên[1](Canh Tuất, Thần Vũ năm thứ 2 [1070], (Tống Hy Ninh, năm thứ 3).  Mùa thu, tháng 8, sửa Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ hình Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây.)
  5 năm sau, lại có một  sự kiện khác được ghi:
Ất Mão tứ niên, xuân nhị nguyệt,  chiếu tuyển Minh kinh bác học cập thí Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, tiến thị đế học[2]( Ất Mão, [Thái Ninh] năm thứ 4 [1075], (Tống Hy Ninh năm thứ 8). Mùa xuân, tháng 2, xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học.)
  Đây là các sự kiện diễn ra vào cuối đời vua Lý Thánh Tông, đầu đời Lý Nhân Tông, chỉ cách nhau 5 năm. Có thể xem đây là chuỗi các sự kiện liên tục thể hiện sự triển khai có hệ thống, chủ trương tiếp nhận Nho học và sử dụng chữ Hán phục vụ cho việc chuẩn bị và nâng cao năng lực cai trị cho các ông vua đương nhiệm cũng như vua tương lai cùng toàn thể bộ máy quan lại.
Những sự kiện này có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử tư tưởng, trong lịch sử giáo dục khoa cử Nho học, nó cũng là điểm mốc của sự lựa chọn hệ tư tưởng. Người ta thường nói hệ tư tưởng chính thống thời  Lý - Trần là Phật giáo, điều đó không sai, nhưng  phần ý thức hệ chi phối thực chất các hoạt động chính trị  là một phức thể Phật giáo- Nho giáo,  thậm chí cốt lõi bên trong của chính trị  lại chính là Nho giáo.
Ông Alexey B. Polyakov, một học giả người Nga cho rằng, Văn miếu là tên gọi chỉ xuất hiện ở Trung Quốc đời Minh và ông chứng minh rằng chưa thể có chuyện xây văn miếu năm 1070 tại Việt Nam. Ông cũng đưa  ra chứng cứ rằng,  Việt sử lược một tác phẩm sử quan trọng trước thế kỷ XV đã không ghi gì một sự kiện mà theo ông là rất quan trọng như việc xây Văn miếu[3].
Tôi nghĩ rằng, có thể năm 1070  chưa có một nơi thờ tự và học tập chính thức gọi là Văn miếu, nhưng rất có thể đã có một nơi thờ tự Khổng tử và tiên hiền và một  tên gọi của nó có thể khác. Thậm chí một nơi thờ tự Khổng tử còn có thể có từ trước cả thế kỷ XI. Chúng ta chú ý tới chữ  “ tu”, tu  là sửa chữa, cũng có khi dựng mới người ta cũng có thể gọi là tu, nhưng nghĩa chính của nó phải là sửa chứ không phải là xây dựng mới. Xây dựng mới thường người ta dùng kiến  hoặc lập, hoặc tạo,  tạo lập, như vậy có khả năng trước đó đã có nơi thờ tự Khổng tử, nhưng tên gọi có thể khác và thời điểm 1070 về trước chưa có tượng Khổng tử, tượng  tứ phối và tranh vẽ  Thất thập nhị hiền. Thời điểm 1070 nơi thờ tự cũ được tu sửa và đợt tu sửa này người ta đã đặt thêm tượng và điều chỉnh nghi thức thờ tự. Dĩ nhiên đây cũng mới dừng ở một phán đoán. Điều đáng chú ý nữa là, Văn Miếu được tu, nhưng không chỉ là nơi thờ tự không, nó còn kiêm làm nơi giảng học. Ông thái tử đã tới đó để học. Và như vậy ngay từ thời cuối thế kỷ XI, Văn Miếu đã là nơi thờ tự kiêm nhà học. Chỉ có điều lúc đó nó chưa có tên gọi Thái học hay Quốc tử viện như các tên gọi và trường sở  thời kỳ sau. Thái tử tới học Nho giáo là một định hướng tư tưởng cho ông vua và cả triều đình trong tương lai.
 Chúng ta đều biết, nền giáo dục Nho học đã được truyền bá tới Việt Nam từ trước thế kỷ X. Khi  nền Nho học đã  được chú ý hơn vào thế kỷ XI, việc cho tu bổ ( hoặc xây dựng mới) một nơi thờ tự kiêm nhà học cho quý tộc là việc hoàn toàn có thể có. Các tác giả  Việt sử lược với tính chất là những sử gia chịu ảnh hưởng rất đậm của Phật giáo, như ông Tạ Chí Đại Trường gọi là các sử gia Tăng Đạo[4], thì đương nhiên các sự kiện về Nho giáo  sẽ ít được chú ý, nó  không quan trọng như cách nhìn của Ngô Sĩ Liên và các sử gia Nho giáo đời sau. Những tư liệu đó khiến người ta dễ có ấn tượng về Nho giáo các giai đoạn Lý -Trần mờ nhạt hơn  thực tế mà nó có thể có. Tương tự như vậy, dưới ngòi bút sử học của Ngô Sĩ Liên trong  Đại Việt sử ký toàn thư, Phật giáo vắng vẻ tàn tạ hơn là đã từng  có trong thực tế. Sử bút của họ đã chọn lọc. 
Năm 1075, có hai sự kiện  cùng diễn ra vào   tháng 2. Một kỳ tuyển Minh kinh bác học và một kỳ thi Nho học tam trường. Hai sự kiện này được ghi liền nhau khiến người ta dễ cho chúng chỉ là một, nhưng xét kỹ ta thấy nó thực sự là hai việc khác nhau: Một kỳ xét tuyển, có tính chất sát cử, tuyển cử những người am hiểu kinh điển. Minh kinh bác học từng là tên của một trong số các  kỳ sát cử thời Hán và sau được dùng lại cho một số khoa thi tiến sĩ thời kỳ Tùy-  Đường. Như vậy dẫu là tên khoa thi, hay kỳ tuyển cử chọn người thông hiểu kinh điển, thì nó cũng có tính chất một kỳ tuyển những người có trình độ Nho học cao. Kỳ tuyển cử này có thể là cung cấp thầy dạy cho Văn Miếu. Lê Văn Thịnh đã trúng tuyển trong kỳ  tuyển cử này. Còn tiếp sau đó có một kỳ thi “ thí” nho học tam trường, một kỳ thi Nho học ở cấp độ cao nhưng chưa hoàn chỉnh. Ông Lê Văn Thịnh, một người có trình độ Nho học được làm Thái sư ( tức người dạy vua và đảm nhiệm một trong Tam Thái, ba chức vụ quan trọng nhất triều đình). Sự kiện 1070 cho thấy thái tử phải tới học Nho học ở Văn Miếu và sự kiện 1075  cho thấy vua được học một người Nho học. Nho giáo đã là tri thức các vua cần học.
 Như vậy, thời điểm cuối thế kỷ XI đã có một nơi thờ tự và giảng học Nho học bậc cao, mang tính chất cung đình. Triều đình đã có một trường học thực sự, ở trường đó dạy Nho học. Đã có chế độ tuyển cử Nho học và khoa cử thi Nho học tam trường. Việc dạy  Nho giáo đã tách ra khỏi trường học chùa chiền và việc dạy tri thức Nho học đã không còn hoàn toàn trong vòng bao quát của các vị cao tăng.
Tôi đặc biệt chú ý tới thời điểm diễn ra các hoạt động có tính định hướng và kiến tạo cho Nho giáo này tại Việt Nam phần quan trọng vì chúng diễn ra cùng lúc với việc chuẩn bị  cho cuộc đương đầu Lý – Tống. Cuộc đối đầu giữa Lý Thường Kiệt và quân Tống nổ ra vào năm 1076, nhưng để chuẩn bị cho một chiến dịch lớn, người ta cần tiến hành từ nhiều năm trước, tức các hoạt động chuẩn bị cho cuộc đương đầu quân sự này với các hoạt động tư tưởng, học thuật nói trên đã được diễn ra song song, đồng thời.  Các vua Lý vừa chuẩn bị chống Tống  vừa triển khai những bước đi đầu  tiên của quá trình thể chế hóa, chính thức hóa địa vị của Nho giáo, lựa chọn và đưa Nho giáo vào thành phần của  hệ tư tưởng chính thống.
Vào thời kỳ nền văn hiến dân tộc vẫn còn ở buổi ban đầu, bản lĩnh quốc gia và những truyền thống lớn của dân tộc còn đang trên đường tạo lập mà sao tiền nhân lại bản lĩnh đến vậy, một loại bản lĩnh văn hóa. Chỉ với bản lĩnh văn hóa thực sự, các vua Lý mới vừa chuẩn bị cuộc chiến với nhà Tống, cả chủ động và bị động, khẳng định độc lập cùng với việc tiếp nhận văn hóa, học tập những yếu tố văn hóa mà tự mình thấy cần thiết, mình còn thiếu. Khí thế dân tộc đang lên, dân tộc đang trưởng thành thời đó đã tạo ra một loại khí chất và năng lượng mạnh mẽ.
 Tiếp nhận những giá trị văn hóa, tri thức, học thuật tốt đẹp của người để làm giàu cho mình  luôn là việc làm khôn ngoan của mọi dân tộc. Không để loại cảm xúc này lấn án lý tính kia, đó chính là bản lĩnh.
Bất dĩ nhân phế ngôn, bất dĩ ngôn phế nhân




[1] Đại Việt sử ký toàn thư. 1998. Khoa học xã hội. Hà Nội. Dịch theo bản khắc in 1697. Tr131.
[2] Đã dẫn. Tr 132.
[3] Xem Alexey B. Polyakov . Vai trò của Nho giáo ở Đại Việt thời kỳ hậu Lý sơ ( 1010-1127). Bài trình bày tại hội thảo khoa học 1000 năm Vương triều Lý, Hà Nội 2009.
[4] Tạ Chí Đại Trường. 2004.Văn mới, California. Dòng sử ký tăng đạo.