Showing posts with label Nho giáo. Show all posts
Showing posts with label Nho giáo. Show all posts

Wednesday, December 19, 2012

HOẠT ĐỘNG DIỄN DỊCH HÁN – NÔM KINH ĐIỂN NHO GIA CỦA CÁC NHÀ NHO VIỆT NAM – PHÂN TÍCH TỪ GÓC ĐỘ MỤC TIÊU VÀ BẢN CHẤT



NGUYỄN KIM SƠN[i]

1. Diễn Nôm – một loại hoạt động kinh học của nhà nho Việt Nam
Nói tới kinh học của Nho gia, người ta nghĩ ngay tới những hoạt động như truyện, chú, tiên, sớ, luận, khảo, giải nghĩa, diễn nghĩa, huấn hỗ, khảo chứng…. Các hoạt động trên nhằm làm rõ hai phương diện cơ bản của kinh điển: phương diện văn bản và phương diện nghĩa lí. Mục tiêu của các hoạt động kinh học là nhằm truyền bá, tiếp nhận kinh điển một cách tốt nhất, hoặc đúng theo một ý đồ tư tưởng của một cá nhân hoặc một học phái. Sự truyền bá và ảnh hưởng của kinh điển Nho gia ra chiều rộng của không gian và sự duy trì theo chiều lịch đại của thời gian, sức lan tỏa cùng sự tái sinh của Nho giáo được diễn ra không ngừng cũng thông qua chính các hoạt động kinh học.
Nhìn các hoạt động của nhà nho Việt Nam từ góc độ dùng chữ Nôm và gắn với kinh điển Nho gia (có thể gọi là kinh Hán Nôm), chúng ta thấy về mục tiêu, nó hoàn toàn thống nhất với mục tiêu của các hoạt động kinh học nói chung, tức làm thế nào để làm sáng tỏ nghĩa lí của kinh sách, thể hiện được cách hiểu và chuyển tải được tốt nhất nghĩa lí của kinh điển. Nó bao gồm cả việc phục vụ truyền bá giảng dạy và mang lại sự hứng thú tự thân cho người làm việc diễn giải.
Không phải ngẫu nhiên, nhan đề của các tác phẩm diễn Nôm thường là diễn nghĩa, giải nghĩa, diễn ca, quốc âm ca, thích nghĩa, giải nghĩa, ca quyết, ước giải, lược giải, giải âm…. Những nhan đề này gợi ý cho ta một loại quan niệm của nhà nho đối với công việc của họ lấy kinh điển Nho gia làm đối tượng. Kết hợp với thực tế tìm hiểu, phân tích các văn bản diễn Nôm, ta thấy hầu hết các công trình loại này đều chủ yếu nhằm vào phương diện nghĩa lí của kinh điển. Rất ít trường hợp nhằm vào khảo chứng văn bản, biện biệt sự sai dị của văn bản. Một vài văn bản nói là “giải âm”, nhưng công việc chính của họ lại là dùng âm Nôm để giải nghĩa lí của kinh sách hơn là một văn bản chú giải âm đọc thuần túy (trường hợp Thi kinh giải âm).
Trong lời tựa viết cho cuốn Chu Dịch quốc âm giải nghĩa, Phạm Quý Thích cũng đánh giá công trình dùng thơ lục bát để diễn nghĩa Kinh Dịch của Đặng Thái Phương là một loại công việc huấn hỗ kinh điển, và sự đề cao của ông đối với công trình này cũng là đề cao theo hướng đó.
Sự học của nhà nho cốt ở chỗ hiểu thấu nghĩa lí mà thôi. Điều gọi là huấn hỗ là sao? Đại khái lời văn trong kinh truyện đều là nghĩa lí của thánh hiền chứa đựng ở đó, nếu không nhờ huấn hỗ thì không thể rõ được. Bản Chu Dịch quốc âm quyết của ông họ Đặng là thuộc về dòng huấn hỗ đó chăng?
儒者之學義理而已矣。而有所謂訓詁何哉蓋經傳之文皆聖賢義理所在而非訓詁則不可得而見是固不可少也。鄧翁《周易國音訣》,其訓詁之流歟?(周易國音歌序
Đương nhiên Phạm Quý Thích cũng cho rằng công việc của Đặng tiên sinh là theo hướng làm rõ nghĩa lí của sách, nhưng là diễn nghĩa hay cắt nghĩa từng câu, từng chữ, từng đoạn theo cách làm của huấn hỗ học.
Quan sát cách làm của các văn bản dùng Nôm hướng tới kinh đin Nho gia, chúng ta thấy hầu hết đều được thực hiện theo cách lấy một câu hay một ngữ đoạn của kinh văn làm gốc, đi liền đó là một đoạn văn Nôm giải nghĩa cho đoạn chữ Hán đó. Trong trường hợp dùng Nôm thể thơ Lục bát, thì việc trình bày thường là một câu chính văn kinh đặt tại nửa trên của trang văn bản và câu lục bát diễn nghĩa đi cùng ở nửa dưới của trang văn bản. Các văn bản khắc in và hầu hết văn bản chép tay đều được trình bày  theo cách: phần chữ Hán in to, còn phần chữ Nôm in nhỏ hơn với một tỉ lệ chênh lệch lớn.

Thi kinh giải âm, quyển 1.
Văn bản này thuộc loại vừa kết hợp giải nghĩa vừa kết hợp giải âm
Cách trình bày trong Trung dung ước giải


Có văn bản trình bày theo cách: một câu, hoặc đoạn văn Hán và một câu dịch Nôm đi kèm ngay sau đó, theo tuần tự trước sau, từ đầu cho tới hết toàn văn bản. Cách làm này có tính chất đối dịch. Có văn bản để cả phần kinh văn, chú giải bằng chữ Hán và chú giải bằng Nôm đi kèm.
Tất cả các bản kinh Hán Nôm đều chung một tình trạng: không có văn bản nào thuần túy chỉ nhằm vào giải âm, hoặc thuần túy khảo chứng thảo luận về góc độ văn bản. Hầu hết đều nhằm vào nghĩa lí của sách, chuyển dịch nội dung, giảng giải về nội dung của sách. Không có văn bản nào thuần túy chỉ có phần dịch Nôm mà việc trình bày thoát li khỏi văn bản chữ Hán để tồn tại độc lập. Cũng có nghĩa là không có một bản dịch Nôm kinh điển nào tồn tại độc lập với ý nghĩa tự thân nó. Điều này cho thấy, quan điểm của người làm là việc song dịch, đối dịch, đối chiếu có cả hai phần là cách tốt nhất, là lựa chọn tối ưu cho việc truyền tải. Nhưng điều này cũng biểu thị một ý nghĩa khác là phần dịch Nôm chưa thể thay thế chính văn chữ Hán để tồn tại độc lập như các loại bản dịch khác thời  hiện đại. Dĩ nhiên nó là phần song dịch, đối dịch vừa bảo lưu văn bản gốc vừa có phần dịch kèm để đảm bảo hiểu bản gốc tốt nhất. Tuy nhiên cũng có thể nhận thấy, nếu tách chính văn chữ Hán có thể tự nó khó hiểu, không đầy đủ, thiếu chỗ dựa. Cách trình bày phần kinh văn chữ Hán viết lớn hơn, viết phần phía trên, phần diễn nghĩa, diễn Nôm viết nhỏ hơn, được đặt bên dưới, ngoài sự bày tỏ thái độ tôn sùng với kinh điển thánh hiền, nó còn có ý tôn trọng bản gốc chữ Hán. Bản chữ Nôm chỉ có ý nghĩa bổ sung hỗ trợ, có ý nghĩa thứ yếu bổ sung thêm cho phần chính văn kinh chữ Hán. Và như vậy, tuy là các phần diễn dịch, chuyển dịch, nhưng vai trò của nó chưa vượt ra ngoài công việc cước chú, chú giải vốn đã rất có truyền thống trong kinh học Nho gia. Cái khác biệt chỉ là ở chỗ dùng một loại văn tự khác, cách diễn đạt khác để chú giải. Và như vậy, việc dịch này không nhằm thay thế cho bản chữ Hán, không nhằm đạt tới mục tiêu người ta hiểu kinh điển mà không cần biết tới bản chữ Hán. Dịch thuật, nhưng dành cho đối tượng biết cả ngôn ngữ của bản gốc và bản dịch, dịch để giúp cho hiểu bản gốc chứ không phải dừng ở chỗ tiếp nhận tư tưởng từ bản dịch. Khía cạnh này của vấn đề càng cho phép khẳng định việc dịch Nôm kinh điển vừa giống lại vừa khác việc chuyển dịch ngày nay. Nó chưa thoát khỏi phạm vi của truyền thống chú sớ.
Cũng nhìn từ cách trình bày, chúng ta thấy các chính văn chữ Hán của kinh điển vẫn là phần đặc biệt quan trọng, nó là bình diện thứ nhất của văn bản và là đối tượng tiếp nhận chính. Nó có liên quan tới mục tiêu của việc diễn dịch Nôm. Giáo dục khoa cử Nho học vẫn là một nền giáo dục khoa cử chữ Hán. Nhà nho vẫn cần phải học kinh điển chữ Hán để đi thi. Việc diễn Nôm kinh điển có thể cũng được dùng trong giáo dục, nhưng nó cũng chỉ  có tính chất hỗ trợ cho người học bậc nhập môn, sơ học. Nó cũng không phải nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu chỉ để hiểu kinh điển tách rời việc khoa cử. Kinh điển chữ Hán không thể thay thế, bản dịch Nôm chưa thể thay thế và không có cơ sở xã hội và học thuật để thúc đẩy nó vươn lên để đủ sức thay thế.
Diễn ca không phải là thảo luận và bày tỏ quan điểm tán thành hay phản đối, hoặc nêu những cách giải thích hoàn toàn riêng như các hoạt động kinh học khác. Nó là một loại chú giải, huấn thích, thông diễn. Nói cách chính xác hơn, diễn Nôm, diễn ca, diễn nghĩa là sự tích hợp của các phiên dịch, diễn dịchchú giải, chú sớ.
2. Mục đích của việc diễn dịch Nôm
Mục đích của việc diễn dịch Nôm một văn bản kinh điển Nho gia dĩ nhiên không đơn nhất. Diễn Nôm, đặc biệt là diễn sang dạng thơ, mục tiêu hàng đầu theo tôi không phải để làm cho kinh văn dễ nhớ dễ thuộc, dễ lưu hành mà trước hết nó là con đường làm cho tư tưởng Nho gia phù hợp hơn với tư duy người Việt, nhu cầu tư duy tư tưởng, triết học bằng tiếng Việt, nó thỏa mãn trước hết cho chính người làm việc này.
Căn cứ vào chính lời của các nhà nho bàn về công diễn dịch Nôm chúng ta có được những thông tin có thể xem là sát hợp với thực tế nhất. Lê Quý Đôn nói trong lời tựa cho bản in lại sách Tứ thư ước giải:
Chữ nào câu nào cũng được sáng tỏ rõ ràng. Nhưng vẫn còn có kẻ hậu học cho rằng khó đọc, tại sao lại thế? Tạo hóa sinh ra tài năng, thường thì được nhiều phần “hùng” [mạnh khỏe] mà được ít phần “anh” [tài trí]. Người cao minh thì kiến thức thông tuệ, xem lướt nghe qua là tự nhiên thấm nhuần, thông hiểu chẳng trở ngại gì. Còn đối với những kẻ trung bình trở xuống, từng trải chưa nhiều, thức ngộ chẳng thấu, thì sao thông tỏ cho được! Còn lũ trẻ miệng còn hôi sữa, thì lại càng khó khăn hơn nữa. Chúng ở tuổi lên năm sáu bảy, chỉ hiểu những lời nói bình thường, cha mẹ dạy cho biết số đếm một hai ba bốn, các mùa xuân hạ thu đông, mà còn chưa lĩnh hội hết được, thì sao dạy nổi cái ý sâu nghĩa lớn của cổ nhân để chúng nhanh chóng hiểu cho trọn vẹn! Huống hồ, tiếng quốc âm nước ta lại khác với Trung Quốc, việc dạy dỗ lại càng khó. Vậy nên các bậc tiên nho mới diễn ra âm bản địa làm bộ Tứ thư ước giải tăng bổ đại toàn bị chỉ, để tâm sức tới cả những điều nhỏ bé nhất. Họ đã sớm lo nghĩ cho những kẻ [trung bình trở xuống và miệng còn hôi sữa] kia vậy.[ii]
一字一句靡不坦然明白。然而后之學者猶或以為難讀,又何也?造化生才,往往得雄之分多,得英之分少。高明之人見聞敏洽,一經耳目自然融液貫通,有何罣礙。若夫中人以下,涉獵未多,識悟不到,寧無全牛之病。至於齠齔之子,又有甚焉者矣。彼于五六七歲時僅解尋常言語,父母教之三四七八之數,春夏秋冬之序,尚未能一一領會,矧其誨之以古人之微旨大義而遽能了了然耶!况我國音語又與中國不同,教之尤有難者。是故先代師儒 方土之音為四書約解增補大全備旨,豪釐秒忽無所不用其力焉。其為此輩慮也遠矣。(重刊四書約解序)
Lê Quý Đôn không phải là người soạn ra sách Tứ thư ước giải, việc làm đó theo ông là việc của tiên nho, tức của những người thuộc thế hệ trước ông. Nhưng ông là người đã sử dụng chúng cho việc giảng giải và học tập kinh điển, đồng thời là thế hệ gần gũi, cùng là nhà nho nên ý kiến của ông cho ta nhiều thông tin rất đáng chú ý. Theo lời tựa nêu trên, việc “ước giải” trước hết nhằm vào đối tượng những người mới học kinh điển (trẻ nhỏ) và những người chưa thể tiếp nhận kinh điển một cách sâu sắc từ chính văn kinh (“trung nhân dĩ hạ”). Theo đó ta thấy việc tách từng câu để diễn giải trước hết là một hình thức cú đậu,[iii] khiến người ta dễ dàng hiểu được nghĩa lí từng đoạn văn bản. Thứ hai cách diễn dịch sang tiếng Việt có thể trở thành dễ hiểu hơn. Nhưng ngay ở góc độ này, chúng ta cũng không thể xem việc dịch Nôm là nhằm đại chúng hóa, muốn hiểu được văn bản, dẫu là dễ dàng đối với người mới học, nó cũng cần người học biết đọc được cả chữ Hán và chữ Nôm rồi mới có thể sử dụng văn bản diễn nghĩa (trường hợp cụ thể là Tứ thư ước giải) để tiếp thu kinh điển. Như vậy nó là dễ dàng cho người tiếp nhận kinh điển ở giai đoạn đầu, trong sự phân biệt với giai đoạn đã hiểu thật  sâu sắc (việc tiếp nhận thẳng từ văn bản chữ Hán là dành cho “trung nhân dĩ thượng” – theo cách nói của Lê Quý Đôn). Như vậy nó không phải để thay thế, mà chỉ để hỗ trợ. Việc tiếp nhận trực tiếp kinh điển từ văn bản Hán vẫn là đòi hỏi tất yếu không thể thay thế đối với những người muốn thâm nhập vào tầng thứ tư tưởng sâu xa, uyên áo của văn bản cổ Hán văn.
Theo đó việc chuyển dịch nên nhấn mạnh ở góc độ nó có liên quan tới vấn đề công cụ để tư duy. Nó vừa giúp cho người tiếp nhận ở giai đoạn còn lệ thuộc nhiều vào tư duy tiếng Việt được thuận tiện từ việc tư duy bằng tiếng mẹ đẻ, đồng thời nó cũng liên quan tới vấn đề thỏa mãn tư duy bằng tiếng Việt của cả chính người làm công việc diễn nghĩa, dịch Nôm. Quá trình diễn dịch là một quá trình chuyển công cụ tư duy, hay tư duy bằng công cụ ngôn ngữ có tính đan xen.
Không thấy các lời tựa nói tới mục tiêu chuyển dịch để dễ nhớ, dễ thuộc. Thực tế nghiên cứu văn bản cũng cho thấy, nhớ và thuộc được một bản diễn Nôm như Chu Dịch quốc âm ca là việc rất khó, nếu không muốn nói là không thể đối với người học.
Diễn Nôm hầu như không có văn bản in và trình bày độc lập, tách hẳn khỏi kinh điển chữ Hán. Không có bản diễn ca Nôm độc lập như các tiểu thuyết bằng thơ Hoa tiên[iv] hay Đoạn trường tân thanh[v], hay các diễn ca Nôm về lịch sử[vi]. Đối với tiểu thuyết, chỗ dựa để người đọc có thể dễ nhớ dễ thuộc là cốt truyện, nhân vật và tình tiết xác định. Người ta dựa theo các yếu tố đó và có thể thuộc được cả truyện thơ dài. Còn với kinh điển, các phạm trù, điển chế, tư tưởng dẫu được trình bày một cách logic, luân lí triết học và châm ngôn rõ ràng, nhưng không hề dễ thuộc dễ nhớ. Nó không có được chỗ dựa như truyện. Có lẽ đây là một lí do khiến diễn ca nôm, diễn nghĩa, giải nghĩa bằng Nôm luôn đi cùng với văn bản chữ Hán và công việc diễn nghĩa về tổng quan được xem là một loại hoạt động chú giải, giải nghĩa, sớ nghĩa bằng chữ Nôm. Nó là hoạt động chưa thoát khỏi hệ thống chú sớ, giải nghĩa kinh điển xét về cả cách thức và phương pháp. Nhìn bộ phận thì nó đã là các bản dịch, xét về công việc thì nó là dịch thuật, nhưng nhìn tổng thể thì  nó chưa hẳn là những bản dịch độc lập.
Diễn ca nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân người làm công việc nghiên cứu thảo luận và tiếp nhận kinh điển Nho gia. Trong quá trình đọc người ta thấy việc diễn Nôm khả dĩ thể hiện được mức độ hiểu kinh điển của họ, muốn diễn đạt ý hiểu đó bằng một ngôn ngữ khác. Điều này mang lại cho họ sự hứng thú học thuật. Trong quá trình tiếp nhận kinh điển bằng cổ văn Trung Quốc, có mấy tầng cách biệt, bản thân ngôn ngữ trong kinh điển đã không phải khẩu ngữ, lại không phải khẩu ngữ người Việt. Nói theo một ngôn ngữ và nghĩ bằng một ngôn ngữ khác chắc chắn có ảnh hưởng tới tư duy và một cách tự nhiên, người ta có nhu cầu chuyển đổi công cụ. Sự ra đời của chính chữ Nôm cũng xuất phát từ chính lí do này. Khi tiếng Việt đã khá phát triển, nhu cầu tư duy bằng tiếng Việt càng thúc bách các sĩ phu  chuyển dịch công cụ. Diễn Nôm kinh điển Nho gia nhìn theo góc độ này, nó lại là một hoạt động “giải độc” (解讀), hoạt động tiếp nhận hơn là dịch thuật.
Có một số văn bản kinh điển và thảo luận có nội dung Nho học do chính người Việt biên soạn, sau khi bản chữ Hán xuất hiện, người ta lại tiếp tục chuyển dịch chúng sang Nôm. Việc diễn Nôm các tác phẩm toát tiết yếu kinh điển của các nhà nho Việt Nam là những dẫn chứng sinh động.
3. Dùng thơ để diễn dịch và hệ quả của nó
Người ta dùng thơ Nôm, chủ yếu là thể thơ Nôm Lục bát để diễn dịch các nội dung của nguyên tác kinh điển Nho gia. Đây là điểm cần có sự chú ý đặc biệt. Lục bát là thể thơ Nôm xuất hiện vào khoảng cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI. Nó là một thể thơ được cấu trúc theo từng cặp, một câu 6 chữ (tính đơn vị chữ Nôm) và một câu 8 chữ, rồi lại tới một câu 6 chữ tiếp theo. Chữ cuối cùng của câu 6 hiệp vần với chữ thứ 6 của câu 8 và chữ cuối cùng của câu 8 lại hiệp vần với chữ cuối cùng của câu 6 tiếp theo.
Một bài thơ Lục bát không giới hạn bao nhiêu câu, nó có thể kéo dài bao nhiêu tùy ý người sáng tạo. Tác phẩm văn học Đoạn trường tân thanh nổi tiếng của Việt Nam được sáng tác bằng thể thơ này, nó dài trên 3000 câu thơ. Hay một tác phẩm diễn ca lịch sử khác Thiên Nam ngữ lục, bao gồm trên 8000 câu thơ.
Thể thơ Lục bát có rất nhiều ưu thế trong việc dùng để bộc lộ cảm xúc, trữ phát tình cảm giống như các thể thơ khác, đồng thời nó cũng lại hết sức thuận lợi trong việc tả cảnh, tả tình kể lại những nội dung phức tạp, trần thuật những truyện nhiều nhân vật và tình tiết. Nó lại có thể đảm nhiệm công việc tự thuật thay cho tản văn.           
Để viết được những câu thơ lục bát thật hay, nó cũng đòi hỏi trình độ nghệ thuật cao, nhưng với những người bình dân, học vấn không cao cũng có thể sáng tác những bài thơ lục bát ở một trình độ nghệ thuật chấp nhận được. Việc sáng tạo một tác phẩm văn chương bằng loại thơ này nhìn chung khá thuận lợi. Đối với người Việt Nam, thể thơ lục bát là thể thơ mang tính đại chúng cao, nhưng lại cũng rất bác học nếu chúng là sản phẩm của một nhà văn hóa có tầm cỡ.  
Người Việt Nam đã triệt để khai thác những thế mạnh về việc sáng tạo và lưu truyền, thưởng thức của thơ Lục bát để chuyển dịch và phổ biến rất nhiều văn bản chữ Hán. Các văn bản chữ Hán được chuyển dịch gồm rất nhiều lĩnh vực, triết học, văn học, y học, lí số, địa lí….[vii]
Việc diễn dịch bằng thơ tạo ra một sự thúc ép người dịch bày tỏ thái độ, cảm xúc, chính kiến nhiều hơn là việc chuyển dịch từ văn xuôi sang văn xuôi. Điều này do sức ép của chính đặc trưng thể loại. Nó nảy sinh từ sự chuyển dịch giữa hai loại văn bản có đặc trưng khác nhau: tự sự và trữ tình. Khi diễn dịch bằng thơ, người ta cũng thường bộc lộ ý khuyên nhủ, dẫn dắt và định hướng nhận thức. Diễn ca ngoài sự tác động vào tư duy lí tính, nó còn tác động vào tầng cảm tính, vào tình cảm và trực cảm. Nó cũng do đặc trưng thể loại tạo ra. Tác phẩm Chu Dịch quốc âm ca của Đặng Thái Phương biểu hiện rất sinh động đặc trưng này. Khi diễn dịch hào “Sơ cửu: Tiềm long vật dụng” của quẻ Càn, tác giả vừa trình bày nghĩa lí của quái hào, vừa định hướng nhận thức và hành động: “Sơ cửu hào nghĩa tiềm long, Mọn còn ở dưới mà dùng làm chi. Bằng Thuấn thuở còn trắc vi, Long đức nhi ẩn, đợi thì sẽ hay. Ta hãy dưỡng đức cho dày, Khi nay ở dưới có ngày lên trên.” Hoặc khi diễn dịch hào nghĩa “Thượng cửu: Cang long hữu hối” của quẻ Càn, tác giả viết: “Thượng cửu hào rằng cang long, Doanh bất khả cửu cho thông mới mầu. Chớ tham lộc vị ở lâu, Xem thời mà tốt chưng sau mới tuyền.” Hào thượng cửu quẻ Càn ý nói, mọi sự vật, sự việc đã phát triển đến giai đoạn quá cực, nếu không thông suốt về lẽ tiến thoái, tồn vong, cùng thông, đắc táng thì có ăn năn. Tác giả diễn dịch ý đó rất gọn bằng một câu “Doanh bất khả cửu cho thông mới mầu”, nhưng đồng thời lại định hướng, khuyên răn cho một đối tượng cụ thể là người có địa vị, “chớ tham lộc vị”, “xem thời” tiến lui để được tốt lành trọn vẹn. Việc định hướng nhận thức và hành động trong diễn dịch kinh điển không có nghĩa là thu hẹp nghĩa lí của kinh điển, mà thể hiện một cách hiểu, một hướng quan tâm của bản thân người diễn dịch.
Việc diễn dịch bằng thơ Nôm vừa thỏa mãn nhu cầu tư duy bằng tiếng Việt, là cách giản dị hóa, nhưng đồng thời nó cũng làm thay đổi, hướng tới một phương thức truyền bá và tiếp nhận khác cách tiếp nhận và truyền bá của người Trung Quốc. Trong con đường tìm tới sự ảnh hưởng và tiếp nhận Nho giáo tại Việt Nam, nhà nho đã nhận thấy diễn Nôm là một con đường truyền bá và tiếp nhận, tuy không chính thống như giáo dục và khoa cử bằng chữ Hán, nhưng lại có hiệu quả. Dùng thơ để “diễn dịch” đã đem lại cho văn bản mới màu sắc cảm tính, xúc động, tâm đắc của người diễn dịch so với bản gốc. Diễn nghĩa là giảng giải cho rõ nghĩa ra, nhưng cũng còn có ý là tạo điều kiện để tiếp nhận tốt hơn bằng một chiều cảm nhận khác, phương pháp tiếp nhận khác. Phương pháp khác này phù hợp với thói quen tư duy hình tượng và tiếp nhận một cách trực tiếp, trực cảm của người Việt Nam hơn. 
Nho gia đặc biệt coi trọng phương diện thực tiễn đạo đức, vì vậy, việc chuyển dịch và diễn dịch này, xét về phương diện học thuật và đặc sắc tư tưởng có phần hạn chế, nhưng xét về phương diện tác động vào sự cảm nhận mang tính tình cảm, mang tính thực tiễn đạo đức thì nó không phải không có hiệu.
Diễn ca đã tìm được cách tác động tốt nhất đối với tâm tính của người Việt. Điều đó cũng có nghĩa là Nho gia tìm được tiếng nói thích hợp nhất với tâm lí tiếp nhận và phù hợp với cách nói, cách cảm của người Việt. Nho gia tìm được chỗ đứng trong hồn Việt bằng chính phương thức này. Nó lấy khuyên nhủ nhẹ nhàng, ân cần nhưng lại có khả năng thấm sâu, gây sự lay động tâm hơn là cách tác động qua chiều lí tính. Mục đích là tìm tới một sự truyền đạt và tiếp nhận hiệu quả nhất.
Kết ngữ
Diễn Nôm, dịch Nôm các tác phẩm kinh điển Nho gia là một bộ phận trong xu hướng bản địa hóa các yếu tố văn hóa, học thuật có nguồn gốc nước ngoài nói chung (chủ yếu là Trung Quốc và Ấn Độ). Trước khi diễn Nôm kinh điển Nho gia, đã có một tiền lệ là các nhà sư hoặc các trí thức Phật học đã từng diễn Nôm nhiều tác phẩm Phật học, chẳng hạn công trình Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh được diễn Nôm vào khoảng thế kỉ XII, hay việc dịch Nôm Khóa hư lục của Trần Thái Tông giai đoạn sau. Dùng Nôm diễn dịch các tác phẩm Phật học thời Lý – Trần đánh dấu giai đoạn xuất hiện của chữ Nôm và sự khởi đầu cho nhu cầu tư duy bằng tiếng Việt, còn diễn Nôm kinh điển Nho gia từ thế kỉ XV trở về sau đánh dấu bước phát triển của văn Nôm và các thể thơ Nôm thời kì trung đại.
Các tác phẩm diễn Nôm kinh điển Nho gia thường hướng tới làm rõ các vấn đề về nghĩa lí của kinh điển. Các tác phẩm diễn ca Nôm hầu như không nhằm khảo cứu văn bản, không khảo sát những vấn đề đồng dị, vấn đề văn tự. Các tác giả cũng ít biện luận về chỗ đúng sai của kinh sách, mà chủ yếu nhằm vào nghĩa lí của kinh điển. Cấu trúc văn bản in vẫn song song Hán – Nôm; hầu như không có bản dịch nào chỉ có phần Nôm độc lập. Từ đó có thể thấy, việc dịch Nôm vẫn bị xem là thứ yếu sau văn bản chữ Hán, là phần thêm vào và chưa tồn tại độc lập. Nó như một phần diễn giảng hơn là một tác phẩm dịch độc lập.
Diễn ca vừa nhằm tác động tới số đông, nhưng trước hết nó nhằm thỏa mãn một nhu cầu, một tâm thức văn hóa của tầng lớp trí thức. Tầng lớp sĩ muốn tư duy và cảm nhận bằng ngữ ngôn ngữ thuần Việt. Người ta muốn thực hiện một quá trình công phu tu dưỡng và tiễn hành một thực tiễn đạo đức bằng lời ăn tiếng nói, cách hiểu cách cảm mang đặc sắc của Việt Nam.
Diễn ca không phải là khuynh hướng học thuật mang tính bác học. Nó có ý nghĩa và vai trò quan trọng khi văn chính luận bằng tiếng Việt chưa thực sự phát triển đủ sức đáp ứng việc diễn tả các vấn đề phức tạp và ở trình độ lí tính cao. Diễn Nôm tạo ra một con đường để các lớp từ ngữ, khái niệm của Nho giáo thâm nhập sâu vào tiếng Việt. Rất nhiều trong số đó được Việt hóa sâu sắc. 
Ngoài việc diễn Nôm kinh điển trong phạm vi Tứ thư, Ngũ kinh, người ta còn diễn Nôm cả một số tác phẩm và vấn đề khác… chẳng hạn: Nhị thập tứ trung diễn ca, Hiếu kinh lập bản diễn ca, các bản thánh huấn, gia huấn… cũng đều được diễn ca.
Việc diễn ca bằng thơ Nôm cũng có tác dụng tiêu cực là làm giảm tính chặt chẽ logic của văn bản, làm mất đi, hoặc làm thiên lệch nhiều nội hàm của các khái niệm, giảm tính chặt chẽ và logic của văn bản. Việc làm này cần được nhìn nhận là một hiện tượng văn hóa học thuật phản ánh những vấn đề chung mang tính quy luật của sự ảnh hưởng của kinh điển Nho gia ra các nước khu vực, đồng thời cũng thể hiện những vấn đề riêng khá đặc sắc của quá trình tiếp nhận kinh điển Nho gia tại Việt Nam.

Bài viết dựa trên tham luận tại hội thảo “Chữ Nôm với kinh điển Nho gia” do Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tháng 8/2011.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu Hán Nôm:
Lê Quý Đôn黎貴惇, Thư kinh diễn nghĩa書經演義, (1772), A.1251.
Đặng Thái Phương鄧太滂, Chu Dịch quốc âm ca周易國音歌, (1757), AB.29.
Tứ thư ước giải四書約解, AB.270/1-5.
Thi kinh giải âm詩經解音, (1792), AB.144/1-5.
Trung dung giảng nghĩa 中庸講義, AB.278.
Thiên Nam ngữ lục天南語錄, AB.478/1-2.
Nguyễn Huy Tự 阮輝嗣soạn, Đỗ Hạ Xuyên杜夏川kiểm hiệu, Hoa tiên nhuận chính花箋潤正, (1875), VHb.72.
Tài liệu tiếng Việt:
Khuyết danh, Thiên Nam minh giám, Hoàng Thị Ngọ phiên âm, chú giải, giới thiệu, (Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học, 1994).
Lạc Nam, Tìm hiểu các thể thơ (Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học, 1993).
Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, Thơ ca Việt Nam: hình thức và thể loại (TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh, 1999).
Trần Đình Sử, Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử (Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục, 2003).



[i] PGS.TS. PGĐ Đại học Quốc gia Hà Nội, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
[ii] Dẫn theo bản dịch của Nguyễn Tuấn Cường, trong bài viết “Nghiên cứu Tứ thư ước giải (Lược tả văn bản và giải đọc bài Tựa của Lê Quý Đôn)”.
[iii] : ngắt câu; đậu: ngắt ngữ đoạn.
[iv] Hoa tiên: tác phẩm truyện thơ Nôm của Nguyễn Huy Tự, sáng tác trên cơ sở vay mượn cốt truyện  từ ca bản Đệ bát tài tử hoa tiên kí của Trung Quốc.
[v] Đoạn trường tân thanh: tác phẩm truyện thơ Nôm của Nguyễn Du, còn gọi là Truyện Kiều.
[vi] Chẳng hạn các tác phẩm: Thiên Nam ngữ lục, Thiên Nam minh giám, Đại Nam quốc sử diễn ca....
[vii] Trong kho sách Hán Nôm, chúng ta thấy có rất nhiều tác phẩm dùng thơ lục bát để diễn ca các tác phẩm y học, tử vi, độn số, phong thủy....

Monday, June 13, 2011

TƯ TƯỞNG QUÝ SINH CỦA NHO GIA- nhân bàn về tâm lý mong chết toàn thây và hoạt động hiến tạng hiện nay



Cách đây ít hôm có người hỏi tôi về vấn đề có liên quan tới quan niệm mong muốn chết toàn thây trong văn hóa và tâm thức người Việt, điều này có liên quan tới  tạo dư luận cho việc hiến tạng cứu người hiện nay. Tôi cũng chưa trả lời được vì thấy vấn đề  khá phức tạp và cũng chưa từng suy  nghĩ thấu đáo về điều này. Nó có liên quan tới nhiều loại tư tưởng, tôn giáo tín ngưỡng, truyền thống của dân tộc, đặc biệt có liên quan nhiều nhất là tư tưởng Nho gia mà chúng ta chưa hiểu hết. Tuy nhiên, tôi lại cảm thấy rất dễ có sự hiểu nhầm việc đề cao chết toàn thây của Nho gia và rất dễ có  chuyện người ta chỉ nhìn nó với chiều tiêu cực, cổ hủ, cản trở, vì vậy tôi thấy cần thiết viết mấy dòng sơ lược bày tỏ sự hiểu biết còn ít ỏi của mình về vấn đề lớn và phức tạp này.
Rõ ràng trong phong tục tập quán và  trong tâm thức của người Việt, chết không toàn thây là điều đau khổ, là sự không thỏa mãn hay bất hạnh đối với người sắp qua đời nếu còn có ý thức về điều đó và gây thương xót cho người sống là thân nhân. Việc hiến tạng vì thế không được nhiều người hưởng ứng, nó có rào cản về tâm lý và phong tục. Suy nghĩ về nguồn gốc của tập tục này, tôi nghĩ phần nhiều nó có gốc từ quan niệm của Nho gia.
Với những gì tôi hiểu thì Đạo gia không  thực sự quan tâm và đặt thành vấn đề lới đối với việc chết có toàn thây hay không. Đạo gia chỉ quan tâm tới chuyện sống hay là chết. Điều Đạo gia quan tâm là làm thế nào đừng chết, chết càng chậm càng tốt, sống càng lâu càng hay, làm thế nào để tránh được cái chết trong trường hợp không đáng chết. Đạo gia phê phán cái chết làm uổng phí sinh mệnh, cho rằng người anh hùng chết vì nghĩa và kẻ trộm cướp bị người ta đánh chết giống nhau ở một điểm là đều chết. Vấn đề là làm sao đừng chết. Đạo gia đề cao sự sống, sinh mệnh, nhưng lại có quan điểm rất phóng khoáng về  vấn đề thi thể sau khi chết.
Một câu chuyện trong sách Trang tử có thể kể lại tương đối theo trí nhớ rằng: 
“ Khi Trang tử sắp chết, học trò nói với ông: Thưa thầy, sau khi thầy chết chúng con xin hậu táng cho thầy ( tức tùy táng theo nhiều thứ và quan quách phức tạp).
Trang tử bày tỏ: “ sau khi ta chết, các con cứ đem quẳng xác ta ra ngoài đồng là xong.”
Học trò nói một cách đau khổ: “ Không được thưa thầy, như vậy diều quạ sẽ rỉa xác thầy mất”
Trang tử cười mà rằng: “ Nếu các con đem chôn ta dưới đất, thân xác ta sẽ là mồi ăn cho  sâu kiến giun dế  ở dưới đất, và như vậy các con đã cướp miếng ăn của diều quạ đem ban cho sâu kiến giun dế, sao các con lại thiên vị như vậy. Các con cứ quẳng xác ta ra ngoài đồng là xong, các con có thể cho thêm gì vào cỗ quan tài vũ trụ của ta không?  ta có mặt trăng mặt trời và các vì tinh tú là những vật chôn theo trong cỗ quan tài rộng lớn của ta, ta có mặt đất rộng lớn làm quan quách của ta, các con có thể bỏ thêm vào quan tài của ta những gì hơn thế  được không? Thôi, hãy quẳng xác ta ra ngoài đồng là xong”( Nam Hoa kinh).
Câu chuyện này có nhiều tầng ý nghĩa, nó cho thấy tinh thần cực phóng khoáng, rộng lớn tiêu dao của nhân sinh trong khoảng vũ trụ bao la không để cho bất kỳ một thứ lễ nghi vụn vặt nào trói buộc. Nó cho thấy việc người ta quá băn khoăn với việc ta ma thương khóc, chôn cất tốn kém linh đình khuynh gia bại sản là việc làm vô nghĩa, là tổn hại cuộc sống của người tại thế. Nó cũng cho thấy Đạo gia không quan tâm nhiều tới việc toàn thây hay không để đi về thế giới bên kia. Phật giáo trong quan niệm về luân hồi, về kiếp sau cũng có liên quan tới sự ảnh hưởng của hình xác không toàn vẹn tới đầu thai kiếp sau. Ở đây tôi chỉ đề cập tới một loại quan niệm khá phổ biến và ảnh hưởng sâu rộng tới quan niệm mong muốn chết toàn thây, đó là quan niệm của Nho gia.
 Nho gia cho đây là vấn đề liên quan tới đạo hiếu, tới danh dự, phạm trù phúc đức. Có thể quan niệm về chết toàn thây hay không có nguồn từ tôn giáo cổ đại của Trung Quốc- Vu giáo. Điều này tôi chưa có điều kiện tra cứu, nhưng khả năng rất có thể có liên hệ. Nhưng từ thời Khổng tử trở về sau, các văn bản còn lưu truyền thì cho thấy nó liên quan trược tiếp tới quan niệm về Hiếu. Đạo hiếu cho rằng cha mẹ ban cho cái gì thì phải cố mà giữ cho được cái đó, không được làm tổn thất mất mát điều gì.  ( kèm theo là không có con  trai nối dõi là đại bất hiếu). Tăng tử trước khi chết còn nói với học trò: “启予足!启予手!诗云战战兢兢,如临深渊,如履薄冰。而今而后,吾知免夫!小子!”(论语-泰伯第八)“ khải dư túc! khải dư thủ ! Thi vân “chiến chiến căng căng[1], như lâm thâm uyên, như lý bạc băng.”nhi kim nhi hậu, ngô tri miễn phù! Tiểu tử”(Luận ngữ- Thái Bá thiên thứ 8)… Câu trên có nghĩa là: này học trò, hãy mở xem chân của ta, hãy mở xem tay của ta! Kinh Thi có nói:  cẩn thận, thật cẩn thận, như tới gần vực sâu, như đi trên băng mỏng.” Từ nay về sau ta mới biết được rằng ta đã tránh được tội bất hiếu đấy hỡi các học trò. Đối với  Tăng Tử, giữ gìn chân tay thân thể, những thứ mà cha mẹ ban cho cũng phải thường xuyên, phải cẩn thận đặc biệt như là đi tới gần vực sâu, như đi trên băng mỏng. Đó là việc khó khăn, là việc không thể xem nhẹ, không thể lơ là. Tới  tận khi sắp chết ông ta mới thực sự an tâm rằng mình sẽ còn một thân thể vẹn nguyên để đi gặp cha mẹ nơi suối vàng. Chân tay của ông ta còn đủ  cả không mất mát phần nào để đi gặp cha mẹ thì người đó cảm thấy sung sướng thanh thản mà chết. Mối quan tâm của nhà nho trước khi chết không phải là chỗ chết rồi sẽ đi về đâu, cuộc sống sau khi chêt sẽ ra sao, mà là đời ta đã trải qua có tỳ vết gì không, có tội lỗi gì không, có toàn vẹn để gặp cha mẹ tổ tiên hay không? Vì thế một việc hết sức quan trọng của nhà nho là làm thế nào bảo toàn được thân thể, không vướng vào hình phạt làm tổn hại thể xác thanh danh.
Nó là tinh thần của đạo hiếu, nhưng suy xét một cách sâu sắc thì thấy nó xuất phát từ quan niệm trọng sinh, quý sinh, thượng sinh của Nho gia. Đây là điểm giống nhau, điểm tương đồng giữa Nho gia và Đạo gia. Nó chỉ khác Đạo gia ở chỗ quý sinh gắn liền với đạo đức. Triết lý quan trọng nhất của kinh Dịch, một kinh điển cực quan trọng của Nho gia là  “ sinh sinh chi vị Dịch”,  hay quan niệm về cái Đức lớn nhất  của trời đất là Sinh thành:Thiên địa chi đại đức viết sinh”. Trong thời đại loạn Xuân thu- Chiến quốc, mạng người bị coi như cỏ rác, sự sống và cái chết của dân chúng nằm trong tay một người, thậm chí phụ thuộc vào cảm xúc, tình trạng tâm lý của một người. Trong trường hợp như vậy, Nho gia phải chủ trương một loại triết lý, gọi là  triết lý bảo thân, triết lý này khuyên người ta phải minh triết, để làm thế nào vừa giúp đời được, vừa cứu người được nhưng cũng phải giữ được cái mạng của mình, không hành động cẩu thả bừa bãi. Bạo hổ bằng hà, hữu dũng vô mưu là cái mà nhà nho không tán thành. Triết lý bảo sinh này  khuyên người ta phải biết tiến thoái, xuất xử, hành tàng, “nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư”,” thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạo tắc ẩn” để sao cho vừa giúp đời vừa giữ mạng mình. Việc xem toàn thây để trở về với cha mẹ là hiếu có ý nghĩa nhấn mạnh việc coi trọng sự sống, giá trị của sự sống, cần phải biết tự bảo vệ mình trong bối cảnh thiên hạ loạn lạc.  Việc nhắc nhở việc có con trai nối dõi thực chất cũng nằm trong  hệ thống việc trọng sinh, trọng sự nối tiếp của sinh mệnh và duy trì sinh mệnh, một điều tưởng giản dị nhưng vô cùng quan trọng của thời kỳ cuộc sống của con người còn quá nhiều điều đe dọa. Nhấn mạnh thận trọng bảo thân, không cẩu thả và coi thường sinh mệnh, nhưng Nho gia vẫn cổ vũ con người trong những trường hợp nhất định vẫn có thể vị đạo tuẫn thân,  sát thân thành nhân, xả thân thủ nghĩa.
 Quan niệm đề cao chết toàn thây  này của Nho gia trong thực tế đã bị người cầm quyền trong quá khứ lợi dụng theo hướng có lợi cho việc cai trị, ngăn chặn phạm tội, nhất là làm loạn và chống lại triều đình. Chết không toàn thây được xem là sự trừng phạt nặng nề có sức răn đe. Phanh thây xé xác được nhắc tới với những gì ghê sợ nhất, ngoài sự đau đớn thể xác, nó còn đánh vào tinh thần của kẻ bị chết lẫn cộng đồng chứng kiến. Gây ra đau đớn tinh thần cho người sống. Chết không toàn thây được xem là  số phận bất hạnh, không ra gì, người ta coi đó là một sự thể hiện  trừng phạt của số mệnh.
Trong các hình phạt xưa, chết toàn thây được xem là ban ơn cho kẻ phạm tội chết, là hình thức gia ân của vua nếu cuộc sống anh ta  có nhiều công trạng, hoặc được xem là đáng chết nhưng tội không quá nặng, hoặc địa vị xã hội đáng được nhận ưu ái…
Quan niệm về sống cẩn trọng, coi trọng sinh mệnh của mình, sinh mệnh của mình không chỉ của mình, không chỉ chỉ liên quan tới cá nhân mình, (mặc dù  pháp luật thừa nhận các quyền đó) là quan niệm tốt có giá trị bền vững của Nho gia để lại. Nó khuyên người ta sống có trách nhiệm với gia đình, cha mẹ. Chuyện sống chết của cá nhân mình không chỉ  là chuyện của mình, nó có thể gây bất hạnh cho người thân và cộng đồng. Nếu ai cũng nghĩ được điều này một cách sâu sắc và cẩn trọng trong hành vi của mình, giảm thiểu dục vọng thì có lẽ sẽ giảm bớt được những cái chết do nghiện hút, và căn bệnh thế kỷ AIDS hiện nay.
 Quan niệm đề cao chết toàn thây trong truyền thống đối với việc hiến tạng ngày nay của người sắp chết quả là một rào cản to lớn. Có những người già tình nguyện hiến tạng, nhưng con cháu lại không muốn vì thương xót. Theo tôi nghĩ ảnh hưởng của quan niệm truyền thống còn rất nặng nề, cần có những điều chỉnh để mở đường cho tư tưởng nhân đạo mới. Cần cổ vũ cho tinh thần cứu một người phúc đẳng hà sa. Coi hiến tạng cứu người là việc lớn tạo nên phúc quả cho thế hệ sau. Điều này không mâu thuẫn với triết lý  bảo sinh quý sinh, sống cẩn trọng, chống tàn hại sinh mệnh, sống cẩu thả, vô trách nhiệm của Nho gia. Hiến tạng là sự lựa chọn chủ động, và vì vậy, nó khác với chết không toàn thây do tai nạn, hình phạt hay những lý do không chủ động khác. Để mở đường cho cũng một loại quan niệm vị sinh trọng sinh- hiến tạng, người ta cần có những chiến dịch truyền thông để điều chỉnh dư luận. Các nhà hoạt động tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo cùng các lực lượng xã hội khác nên cổ vũ cho tinh thần này. 
Nguyễn Kim Sơn
ngày giữa hè 12.6.2011




[1]  Kinh Thi- Tiểu nhã- Tiểu mân

Sunday, March 13, 2011

NHO GIÁO TRONG TƯƠNG LAI VĂN HÓA VIỆT NAM

Nguyễn Kim Sơn

Việt Nam là một quốc gia thuộc vùng chịu ảnh hưởng của Nho giáo (Nho giáo văn hoá khuyên). Nho giáo đã từng ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc tới xã hội Việt Nam thời kỳ trung cận đại. Trải qua những chuyển biến xã hội, văn hoá thế kỷ 20, Nho giáo đã mất địa vị độc tôn, chính thống và luân lạc trong dân gian như nhiều quốc gia khác trong khu vực Ðông Á. Vấn đề đặt ra là, qua những biến động của thế kỷ 20, Nho giáo có còn tồn tại hay không? Nó ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, tư tưởng của thế kỷ 21 như hệ thống thế nào? Người ta có thể đoán định về vận mệnh của nó trong tương lai hay không? Thái độ khoa học cần phải có đối với Nho giáo trong tương lai như thế nào? Bài viết đặt mục tiêu góp phần giải đáp những vấn đề đó. Tuy nhiên, đoán định về ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam thế kỷ 21 là công việc lớn, phức tạp và luôn là quá sức đối với bất kỳ một cá nhân nào. Bài viết này bày tỏ một vài ý kiến còn ở mức độ nông cạn, bước đầu thậm chí còn ở mức cảm tính về vấn đề nan giải nhưng cấp bách đang đặt ra.

Các quan điểm của người viết được trình bày dựa trên cơ sở những nhận thức, đánh giá về những đặc điểm cơ bản của Nho giáo Việt Nam thời kỳ trung cận đại, cùng những điểm chung, điểm khác biệt quan trọng của nó so với Nho giáo các nước khu vực. Những đặc điểm của Nho giáo truyền thống Việt Nam là nhân tố nội tại của Nho học quy định những ngả đường vận động của nó trong thời kỳ hiện đại.

Bài viết cũng coi bước chuyển biến sâu sắc, toàn diện của xã hội Việt Nam thế kỷ 20, sự đứt đoạn và tiếp nối, quá trình chuyển hoá hiện đại các yếu tố của nền văn hoá Việt Nam là đối tượng được đặc biệt chú ý trong quá trình phân tích và lấy đó làm cơ sở để đoán định tương lai của Nho giáo tại Việt Nam.

Giống như mọi hiện tượng văn hoá khác, Nho giáo chịu sự quy định của thực tại. Người viết cân nhắc những điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị của Việt Nam cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, chính sách văn hoá, xã hội của Ðảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam cùng nhiều nhân tố khác nhau của xã hội Việt Nam để suy đoán về ảnh hưởng Nho giáo trong tương lai.

Nho giáo đã và đang tiếp tục có những ảnh hưởng mới ở khu vực Ðông á - Ðông Nam Á và trên thế giới. Các học giả Trung Quốc Ðại lục, học giả Âu - Mỹ và đặc biệt là các vị Tân Nho gia Cảng - Ðài đã có những thành tựu quan trọng trong nghiên cứu Nho học truyền thống cũng như quá trình chuyển hoá sáng tạo Nho học truyền thống. Người viết không thể không tính tới những khả năng ảnh hưởng mới của Nho giáo khu vực đối với Việt Nam, cũng có nghĩa là phải đặt Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ 21 trong bối cảnh Nho giáo Châu Á thế kỷ 21 nói chung để nhìn nhận.

Ngoài những cơ sở có tính chất nguyên lý chung phổ quát của sự phát triển văn hoá như vừa nêu trên, người viết cũng lưu tâm thích đáng tới nhân tố có tính năng động, chủ quan, không kém phần hệ trọng đối với việc quyết định đường hướng, diện mạo tương lai Nho giáo - đó là nhận thức, thái độ hiểu biết và tình cảm của tầng lớp trí thức.

Dù nghiên cứu Nho học truyền thống hay nghiên cứu khả năng tái sinh của nó trong tương lai, người viết luôn quán xuyến quan điểm khẳng định sự tồn tại của Việt Nho - một thực thể văn hoá, tư tưởng độc lập và sống động so với Nho giáo ở các quốc gia Ðông Á. Nó không phải là một tử vật được trưng bày trong bảo tàng, cũng không phải một phiên bản có tính rút gọn giản đơn của Nho giáo Trung Quốc. Nghiên cứu Nho giáo Việt Nam quá khứ - hiện tại - tương lai đều phải lấy Việt Nam làm bản vị chứ không phải lấy Trung Quốc làm bản vị. So sánh tìm dị biệt là cần thiết nhưng chúng tôi cũng nhận thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhận đồng, khẳng định những điểm chung quan trọng giữa Nho giáo Việt Nam và Nho giáo các nước khu vực. Tương lai của Nho giáo ở Việt Nam cũng là một bộ phận của Nho giáo Châu Á trong tương lai. Trên cơ sở một số nguyên tắc và cơ sở nhận thức như vạy chúng tôi trình bầy sự đoán định của mình về tương lai của Nho giáo Việt Nam thế kỷ 21.


1. Sự giải thể và chuyển hoá của Nho giáo thế kỷ 20

Thế kỷ 20 là thế kỷ biến động sâu sắc và toàn diện. Người ta nhìn nhận sự biến động lớn đó là đứt gẫy, là sự gián cách văn hoá giữa truyền thống và hiện đại. Nhưng nếu coi những biến chuyển của Nho giáo thế kỷ 20 là đứt gẫy là gián cách thì điều đó cũng có nghĩa nó không mất đi mà vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng ở một trạng thái mới. Chúng tôi cho rằng đã có hai quá trình cùng diễn ra, quá trình giải thể và quá trình chuyển hoá, giải thể để đi tới chuyển hoá, là sự kết thúc của Nho giáo thời kỳ chuyên chế phong kiến và bắt đầu của Nho giáo thời kỳ cộng hoà, tự do và dân chủ.

Quá trình giải thể của Nho giáo thế kỷ 20 đã diễn ra một cách toàn diện, ở cả phương diện chính thống, học thống và đạo thống. Nó diễn ra mạnh mẽ khi chế độ giáo dục khoa cử nho học bị xoá bỏ vào năm 1919 (học thống), được hoàn tất khi cách mạng dân tộc dân chủ năm 1945 toàn thắng bởi sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, xoá bỏ chế độ thực dân nửa phong kiến (đạo thống và chính thống).

Quá trình giải thể tiếp diễn ở chiều sâu trong quá trình Việt Nam xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa và tiếp tục phê phán Nho giáo với tư cách là hệ tư tưởng vào các thập kỷ 60, 70 của thế kỷ 20. Quá trình phê phán nói trên tuy không sâu sắc ở góc độ học thuật, nó thiên về chính trị, (người ta đồng nhất Nho giáo với tư tưởng phong kiến cổ hủ, lạc hậu) nhưng nó cũng tạo ra trong xã hội một xu hướng bài Nho giáo, chối bỏ Nho giáo một cách rộng khắp. Ðã có một quá trình giải thể của Nho giáo trên phương diện tư tưởng mặc dù nó đã không tập trung thành trào lưu phản truyền thống mạnh mẽ như đã từng diễn ra ở Trung Quốc thế kỷ 20.

Như đã nói ở trên, quá trình giải thể đã đồng thời gây ra một quá trình chuyển hoá. Nho giáo đã từ địa vị quan phương chính thống chuyển sang luân lạc trong dân gian, tức nó mới mất đi phần chính trị, phần ứng dụng của nó - Phương diện tôn giáo, triết học và cả tinh thần nhân văn vẫn tiếp tục tồn tại trong đời sống người Việt Nam. Nó tiếp tục được bảo lưu trong đời sống gia tộc, phong tục tập quán, nhân cách, lý tưởng, quan hệ nhân tế của con người. Sự chuyển hoá của nó là từ hệ tư tưởng quan phương chính thống sang một loại tư tưởng không chính thống, ảnh hưởng tự nhiên, phân tán trong cộng đồng xã hội mới. Trong định hướng giá trị của người Việt Nam, nó vẫn ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc.

Từ thời Lý, Nho giáo được bảo trợ bởi chính trị đã tiến những bước dài trong quá trình ảnh hưởng so với thời kỳ trước độc lập. Ở thời kỳ này, Nho giáo đã từ thượng tầng của tư tưởng mà tác động xuống cơ địa văn hoá, nó có phần áp đặt. Sự tác động của Nho giáo theo chiều hướng đó qua nhiều thế kỷ đã làm thay đổi diện mạo của toàn bộ nền văn hoá, tác động vào phong tục tập quán, tín ngưỡng, đã diễn ra một quá trình "tông pháp hoá" gia tộc người Việt. Tuy nhiên ảnh hưởng ở phương diện chính trị vẫn nổi bật nhất. Thế kỷ 20, không còn chỗ dựa chính trị, lại không được lưu truyền qua hệ thống giáo dục khoa cử, Nho giáo đã mất đi những chỗ dựa hết sức quan trọng. Nho giáo một cách tự nhiên chuyển sang tìm chỗ dựa ở tâm thức dân chúng, ở những nhu cầu và giá trị văn hoá bền vững và ổn định mà nó đã từng tạo ra được trong truyền thống. Từ chỗ dựa này, nó vẫn có những cơ hội tái sinh. Thế kỷ 20 trong trạng thái ảnh hưởng mới - tự do và phân tán trong dân gian - Nho giáo có quá trình tác động ngược chiều so với quá trình từng diễn ra trước đó, tức với tư cách là thành tố của cơ tầng văn hoá, nó tác động ngược chiều tới các lĩnh vực thượng tầng như chính trị, đạo đức, tư tưởng. Sự chuyển hóa của nó chính là sự hiện diện từng mảng, từng yếu tố trong tất cả các lĩnh vực văn hoá mới được kiến lập sau sự giải thể của Nho giáo. Tuy nhiên vị trí chủ cán của Nho giáo đối với văn hoá Việt Nam truyền thống không thực tiêu biểu và rõ ràng như vị trí của nó đối với văn hoá Trung Quốc, cho nên trong sự chuyển hoá mới, nó cũng rất khó có thể trở thành chủ cán trong văn hoá Việt Nam hiện đại.


2. Nguy cơ đối với văn hoá dân tộc và ảnh hưởng mới của Nho giáo

Nho giáo được lựa chọn ở Việt Nam thời trung đại phần quan trọng xuất phát từ nhu cầu xã hội nhà nước phong kiến trung ương tập quyền mạnh, từ nhu cầu củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc. Nho giáo và dân tộc, đó là hai vấn đề gắn bó hữu cơ, khăng khít.

Các nhà Nho Việt Nam vừa sống, tu dưỡng theo những nguyên lý đạo đức Khổng Mạnh, lại vừa ứng xử với tư cách người quốc dân luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Ý thức về độc lập và tự cường dân tộc, về truyền thống dân tộc kết hợp, hoà quyện cùng ý thức về đạo thống và chính thống trong tư tưởng các nhà Nho. Ðạo thống đối với nhà Nho Việt Nam được cảm nhận như một bộ phận của Ðạo được truyền báo và duy trì trên mảnh đất Ðại Việt, gắn với sự truyền thừa nền văn hiến của dân tộc.

Trong quá khứ, mỗi bước chuyển biến của dân tộc đều liên quan tới vận mệnh của Nho giáo. Ðã thành tiền lệ, các vấn đề văn hoá nảy sinh trong xã hội Việt Nam hầu như không được giải quyết độc lập, đáp ứng những nhu cầu vận động tự thân của văn hoá, mà thường được giải quyết đồng thời, giải quyết cùng lúc với vấn đề dân tộc. Nhân giải quyết vấn đề dân tộc mà đồng thời người ta giải quyết các vấn đề văn hoá. Chẳng hạn, cuộc kháng chiến chống Minh cứu vong dân tộc thế kỷ 15 với việc chuyển đổi hệ tư tưởng, thay đổi vận mệnh Nho giáo, hay Cách mạng tháng tám 45, là cách mạng dân tộc, vừa là cách mạng dân chủ, cách mạng văn hoá.

Từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, việc Việt Nam chuyển đổi cơ chế nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hoá quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường và hội nhập thế giới đã làm nảy sinh những nguy cơ đối với văn hoá Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển đổi cơ chế kinh tế làm phát xuất những nguy cơ từ bên trong và những nguy cơ bên ngoài kéo đến từ hội nhập quốc tế. Nguy cơ bên trong thể hiện ở sự xói mòn và băng hoại nhiều giá trị văn hoá truyền thống. Nguy cơ bên ngoài là việc thâm nhập của văn hoá Âu mỹ, của lối sống Tây phương hiện đại tấn công vào văn hoá bản địa, đe doạ sự tồn tại của bản sắc văn hoá dân tộc. Hai nguy cơ nảy sinh từ bên trong và tác động từ bên ngoài hợp thành môt nguy cơ lớn đe doạ văn hoá dân tộc. Lúc này nguy cơ đối với dân tộc không phải chỉ còn ở chỗ độc lập hay không độc lập, mà còn ở chỗ dân tộc có bị hoà tan trong cộng đồng văn hoá nhân loại hay không, cái sẽ là một thảm hoạ lớn và cũng là một loại diệt vong. Trước nguy cơ đối với văn hoá dân tộc đó, cả tự giác và không tự giác, người Việt Nam đã hướng về bảo lưu các giá trị truyền thống. Phong trào tái sinh văn hoá đã diễn ra mạnh mẽ. Tái sinh văn hoá diễn ra một cách tự nhiên trong dân gian và nằm trong chiến lược giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của Ðảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Truyền thống văn hoá được bảo vệ và phát huy theo hướng bảo lưu nhiều giá trị truyền thống đã tạo ra những cơ hội cho Nho giáo tái sinh. Ðiều đó là đương nhiên vì Nho giáo đã từng tham gia và là thành phần quan trọng kiến tạo bản sắc văn hoá. Ðồng thời cũng phải nhận thấy rằng bảo vệ truyền thống văn hoá cũng sẽ là điều không thể thực hiện được nếu gạt bỏ những gì thuộc về Nho giáo. Vậy là Nho giáo được lựa chọn, biến thiên, bị giải thể tái sinh thảy đều gắn rất chặt với vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Ðiều này hẳn là việc sẽ còn tiếp diễn lâu dài trong tương lai. Sự tái sinh của Nho giáo thế kỷ 21 không phải là sự tái sinh của thứ Nho giáo chung chung, mà là sự tái sinh của bộ phận Nho giáo đã Việt hoá sâu sắc, là sự tái sinh của thứ Việt Nho với những ưu nhược mà nó từng thể hiện.Vì thế trong diện mạo của văn hoá Việt Nam ở thế kỷ 21, không dễ phân biệt cái gì thực sự là của Nho giáo, cái gì là truyền thống người Việt nói chung. Năm 2000, tại Hà Nội, nhà Thái học (trường Ðại học dạy Nho giáo trước đây) đã được trùng kiến. Vị trí của Nho giáo và Khổng tử cũng có phần được cải thiện, nhưng đối với người Việt Nam đó vẫn là công việc tôn vinh truyền thống của Việt Nam mà không phải là nhằm tôn vinh Nho giáo và Khổng tử, dẫu hai điều đó có liên quan mật thiết với nhau.


3. Ảnh hưởng hiện đại của Nho giáo về mặt tôn giáo, tín ngưỡng

Trên phương diện là tôn giáo, tín ngưỡng, Nho giáo đã và đang tiếp tục ảnh hưởng mạnh tới đời sống xã hội. Ðây chính là phần hiện hữu sinh động và nổi bật của Nho giáo hiện đại.

Dẫu có nhiều thăng trầm và không ít sự thay đổi, tục thờ cúng tổ tiên, nhìn chung vẫn được duy trì suốt thế kỷ 20 đầy biến động vừa qua. Thờ cúng tổ tiên đối với người Việt không còn là chuyện Nho giáo hay không Nho giáo, nó đã Việt hoá sâu sắc thành một sinh hoạt, phong tục tập quán và tín ngưỡng quan trọng bậc nhất của người Việt. Sau cải cách kinh tế cuối thế kỷ 20, đời sống kinh tế đã khá lên, tục thờ cũng tổ tiên lại được đặc biệt coi trọng. Nó thành một điểm nóng của tái sinh văn hoá. Người ta đua nhau truy tìm phần mộ tổ tiên, sưu tập gia phả, nhận họ, sửa sang nhà thờ, thờ cúng tổ tiên hiện đại có xu hướng thế tục, thực dụng và nông cạn. Tiên tổ được đề cao như sự trợ giúp, chỗ dựa trong cuộc cạnh tranh thị trường khốc liệt. Thờ cúng tổ tiên ít còn được hiểu như hành vi luân lý, hành vi đạo hiếu, là việc giáo dục con cháu. Tương lai, việc thờ cũng tổ tiên có thể còn tiếp tục phát triển mạnh theo hướng thực dụng. Nho giáo sẽ có chỗ đứng vững chắc cùng hoạt động tâm linh này, nhưng không đẩy mạnh ý nghĩa giáo dục luân lý, đạo đức, tinh thần uống nước nhớ nguồn, tục thờ cúng tổ tiên sẽ mất đi nhiều ý nghĩa nhân văn vốn có của Nho giáo. Nó sẽ là xu hướng không lành mạnh nếu không có sự can thiệp, dẫn dắt của tri thức, của dư luận xã hội.

Suốt trong khoảng thời gian mười thế kỷ trung đại, đã từng có những giai đoạn Nho giáo được coi là độc tôn. Tuy nhiên, khung cảnh của truyền thống tư tưởng vẫn là tam giáo hoà đồng. Tam giáo phân chia lĩnh vực ảnh hưởng và bổ sung cho nhau. Hoà đồng tam giáo là nết nổi bật trong tư tưởng Việt Nam trung đại. Thế kỷ 20, khi Nho giáo không còn ảnh hưởng mạnh trong đời sống chính trị, nó "thất thế" về toàn cục. Phật giáo có nhiều cơ hội hơn trong việc giữ vững vị thế của mình. Chính sự khác nhau trong mối quan hệ với chính trị giữa Nho giáo và Phật giáo đã khiến cho chúng nhận được những thái độ khác nhau của chính trị hiện đại. Nhà chùa đã tự điều chỉnh để thích ứng với điều kiện mới, đòi hỏi mới của xã hội. Phật giáo cũng vươn ra gánh vác nhiều hoạt động mà trước đây do các nhà Nho làm. Hiện nay, nhiều chùa chiền là nơi dạy chữ Hán. Nhiều nhà sư hăng hái nghiên cứu Nho gia (tương tự khung cảnh thời Lý - Trần). Chắc chắn Phật giáo sẽ còn có những cơ hội phát triển mạnh hơn trong tương lai. Nhưng Phật giáo sẽ thiên về thu hút các tầng lớp dân chúng đông đảo. Phật giáo tiếp tục thoả mãn nhu cầu giải thoát, nhu cầu tâm linh của số đông nhân dân. Tuy nhiên, tham gia vào quá trình kiến tạo và dẫn dắt tư tưởng, văn hoá dân tộc, giải quyết những nguy cơ dân tộc về mặt văn hoá thì lại là việc mà Nho giáo có nhiều khả năng hơn hẳn Phật giáo. Trong những điều kiện mới, Nho giáo sẽ tiếp tục ảnh hưởng mạnh ở giai tầng tri thức. Nó tham gia kiến tạo nhân cách, nhân sinh, dẫn dắt các quan hệ xã hội, ứng xử xã hội của dân chúng. Khung cảnh đa giáo hoà đồng sẽ tiếp tục được duy trì, nhưng Phật giáo sẽ là chủ đạo chứ không phải Nho giáo. Sự cải thiện vị trí và những khả năng ảnh hưởng mạnh của Nho giáo chỉ được thực hiện khi chính trị ưu ái hơn với Nho giáo và sự nhận thức của trí thức đối với văn hoá truyền thống, đối với tương lai văn hoá Việt Nam có những điều chỉnh thích hợp.


4. Cái học tâm tính của Nho giáo trong tương lai.

Ðã là nhà Nho, đã từng nghiềm ngẫm kinh điển Nho gia, ai cũng coi trọng cái học nội tỉnh tự tu tự giám, ai cũng coi tu thân là gốc của mọi quá trình. Cái học hướng nội điều chỉnh ấy nhà Nho gọi là cái học nội thánh, hay tâm tính chi học. Từ nội thánh, nhà Nho triển khai ngoại vương. Ðó là đặc sắc của Nho gia. Thế kỷ 20, Nho gia ít còn điều kiện và cơ sở xã hội để thực hành đạo ngoại vương. Nhưng trong thời kỳ dân chủ, tự do, đề cao cá nhân, cái học nội thánh vẫn còn có chỗ đứng, nó rất cần cho việc tu dưỡng của người hiện đại. Hoàn thiện nhân cách, truy cầu lý tưởng nhân sinh an lạc hoà hài không mâu thuẫn với cá nhân tự do. Các học giả tân nho gia đã nhận thức rõ điều này. Họ đã ra sức khuếch trương cái học tâm tính, kiến lập cái học nội thánh mới theo hướng dung hợp Nho - Phật. Dung hợp tư tưởng Nho gia và triết học phương Tây cận hiện đại là trọng tâm của quá trình chuyển hoá hiện đại Nho học. Nhiều học giả còn lãng mạn hơn khi hy vọng tâm tính học Nho gia là phương thuốc chữa căn bệnh khủng hoảng cá nhân và tạo dựng xã hội hoà hài tốt đẹp.

Việt Nam trong thời kỳ trung đại, do quá thiên về mặt chính trị, mặt ứng dụng, sự truyền bá Nho giáo lại chủ yếu thông qua giáo dục khoa cử, cái học tâm tính của Nho gia cũng được nhà Nho quan tâm nhưng nó không được chú trọng và đẩy tới chiều sâu của tu dưỡng đạo đức khắc kỷ như ở Trung Quốc và các quốc gia Ðông Á khác. Nho giáo Việt Nam thiên về ngoại vương, ngoại vương cường mà nội thánh nhược. Lục Cửu Uyên và Vương Dương Minh hầu như không có vị trí đáng kể, không thu hút sự chú ý của nhà Nho Việt Nam.

Trong sự chuyển giao thời đại, Nho gia sẽ đi vào hiện đại chủ yếu bằng tâm tính học. Nhưng ở Việt Nam, sự triển khai cái học tâm tính cho thời dân chủ và cá nhân sẽ gặp những khó khăn nghiêm trọng, do nó là điểm yếu trong truyền thống. Nếu phát huy mạnh cái học tâm tính, một truyền thống mới rất khác trước diễn ra. Nó là việc khó nhưng vẫn cần thiết, bởi vì nếu thiếu chiều sâu của cái học tâm tính, Nho gia sẽ chỉ còn là nông cạn, thiển cận. Thiếu vắng cái học tâm tính, yếu tố tích cực của Nho giáo sẽ mất đi rất nhiều. Ði qua khúc ngoặt thế kỷ 20, Nho giáo Việt Nam có thể từ "ngoại vương cường chuyển sang nội thánh cường." Ðể có sự chuyển hướng này, tầng lớp trí thức phải gánh vác sứ mệnh. Chỉ có nhận thức cho rõ ngả đường vận động tất yếu của Nho giáo, định hướng nó theo chiều phát huy hết cái tích cực cho con người và xã hội tương lai, Nho giáo mới thực sự được tái sinh một cách lành mạnh, tự giác. Ðó là việc chủ động để giữ gìn bản sắc, xây dựng nền văn hoá mới của dân tộc Việt Nam.

Sự ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ 21 sẽ còn thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác, chẳng hạn trong lĩnh vực phong tục tập quán, văn hoá gia tộc, quản lý kinh doanh v.v. do khuôn khổ của bài viết chúng tôi chưa có điều kiện đề cập một cách cụ thể. Bài viết này chỉ là gợi mở một vài hướng suy nghĩ về tương lai của Nho giáo trong xã hội Việt Nam. Người viết coi đây là sự khởi đầu một hướng quan tâm, vừa cấp bách vừa lâu dài. Rất mong sự chỉ giáo của các vị thức giả.

Nguồn: Tạp chí Văn hoá - Nghệ thuật, Hà Nội, số tháng 2/2003