Showing posts with label Đổi mới giáo dục đại học. Show all posts
Showing posts with label Đổi mới giáo dục đại học. Show all posts

Thursday, November 15, 2012

SỨ MỆNH CŨ, NHIỆM VỤ MỚI CỦA NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY HÁN NÔM


1. Truyền thừa văn hóa

Kể từ đầu thế kỷ XX, khi chữ quốc ngữ được chính thức sử dụng thay cho chữ Hán, một cách tự nhiên, công cuộc đại chuyển dịch văn hóa bắt đầu. Sự nghiệp của những người làm công việc sưu tầm, bảo quản, chỉnh lý tư liệu, nghiên cứu, dịch thuật từ văn bản Hán Nôm sang quốc ngữ  cũng một cách tất yếu mang sứ mệnh truyền thừa văn hóa. Những nhà Hán Nôm học đầu thế kỷ XX cũng đồng thời là thế hệ đầu của những người gánh vác sứ mệnh truyền thừa văn hóa đó. Những văn bản phiên dịch Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm... sang chữ Quốc ngữ đăng trên những tờ báo mới ra đời cũng là những sản phẩm mang tính cầu nối văn hóa đầu tiên.

Từ bấy tới nay, đã trải qua 3 đến 4 thế hệ những người thầm lặng làm các công việc kết nối, truyền thừa. Họ là những người vốn là trí thức Nho học, trong buổi gió Á mưa Âu, xót xa cho các giá trị của cha ông, tìm cách truyền đạt cho thế hệ sau, mong giữ gìn văn hóa giống nòi. Họ là những người theo Tây học, nhưng hiểu được công việc tất yếu cần làm. Họ là những người  được đào tạo mới từ Trung Quốc, Liên Xô (trước đây), tiếp thu các lĩnh vực học thuật mới, áp dụng vào nghiên cứu Hán Nôm, ngày càng đẩy Hán Nôm theo hướng một lĩnh vực học thuật chuyên sâu. Và họ là những thế hệ học sinh mới, sinh ra và lớn lên rất xa thời lều chõng của Nho gia, nhưng thấy nghiệp Hán Nôm hấp dẫn và dấn thân. Hơn một thế kỷ và qua nhiều thế hệ, nhưng nhìn chung, công việc của họ đã làm là giống nhau: đó là việc thẩm định, đánh giá, giới thiệu, dịch thuật, xử lý văn bản từ góc độ văn bản học, xây dựng những bộ sách công cụ phục vụ cho việc giải mã văn bản, hướng nghiên cứu theo góc độ văn tự, ngữ nghĩa, cấu trúc chữ nghĩa, lịch sử văn tự và lịch sử tiếng Việt... dần xây dựng một ngành khoa học riêng với việc giải mã và phát huy các giá trị của văn bản Hán Nôm làm nhiệm vụ học thuật. Nó cũng là công việc nhằm thực thi sứ mệnh truyền thừa văn hóa. Theo trình tự thời gian, nó là sứ mệnh cũ, nhưng lại luôn luôn mới.  

Cho tới nay, công việc sưu tầm văn bản đã đi được những bước quan trọng nhất. Hiện chỉ còn là bổ sung, phát hiện thêm số tư liệu mới không còn nhiều so với những gì đã có, tìm kiếm tư liệu từ nước ngoài... Các tác phẩm quan trọng nhất đã có một vài bản dịch khác nhau, đặc biệt là các bộ quốc sử. Các hướng tiếp cận từ góc độ văn tự học, văn bản học... cũng đã đi được những bước đi căn bản, giờ chỉ còn là vấn đề triển khai cho các nghiên cứu trường hợp cụ thể và làm cho các lý thuyết trở nên nhuần nhuyễn hơn mà thôi. Vậy nhiệm vụ hiện nay của việc nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm là gì? Chúng ta có còn nhiều việc phải làm hay không?

2. Nhiệm vụ mới đang đặt ra

Có thể nói ở thời điểm đầu thế kỷ XXI này, sứ mệnh của ngành nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm vẫn không thay đổi, việc truyền thừa văn hóa vẫn đặt lên vai những người hoạt động trong lĩnh vực này. Khoảng cách thời gian so với thời sử dụng chữ Hán chữ Nôm trong đời sống càng xa, việc nảy sinh rất nhiều vấn đề bất ổn trong nền văn hóa, hệ giá trị và sự định hướng nhân văn, người ta càng cảm nhận thấy những nguy cơ do sự gián cách văn hóa gây ra. Và cũng theo thời gian, sứ mệnh ấy không những không hề giảm đi mà còn gia tăng thêm. Khi đất nước đi vào hội nhập quốc tế, đối thoại và giao lưu quốc tế càng mở rộng, việc thực hiện sứ mệnh càng có phần khó khăn hơn, những đòi hỏi đối với người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm càng nặng nề hơn. Để thực hiện được sứ mệnh ấy, cần nhận diện rõ thêm một số việc cần làm. Xin phác thảo theo sự nhìn nhận chủ quan:

- Hiện nay công việc sưu tầm mang tính bổ sung, công việc bảo quản tư liệu Hán Nôm vẫn là việc hết sức quan trọng, việc này hiện nay khó hơn vì càng thêm thời gian, các tài liệu Hán Nôm lưu giữ trong dân gian càng hỏng nát mất mát thêm. Việc sưu tầm cần nhìn rộng ra thế giới với các quan hệ rộng và khả năng khai thác phù hợp. Kỹ năng, tầm hoạt động trong việc khai thác tìm kiếm tư liệu cũng vì thế mà đặt ra những đòi hỏi cao hơn thời kỳ trước.

- Tất yếu cần những thế hệ bản dịch mới. Hơn một thế kỷ vừa qua, với sự đóng góp của lực lượng nghiên cứu Hán Nôm trên cả nước, rất nhiều văn bản Hán Nôm đã được phiên âm, được dịch sang quốc ngữ và xuất bản. Có thể nói những tác phẩm quan trọng nhất trong các lĩnh vực văn học, sử học, triết học... đều đã có ít nhất một bản dịch. Tuy nhiên nhìn lại các công trình dịch thuật đó có thể thấy, về tổng quan, đó mới là bước đi đầu tiên trong quá trình truyền tải, chuyển giao văn hóa. Do một thời gian khó khăn của kinh tế, của điều kiện xuất bản, của lực lượng dịch thuật và cả quan niệm, việc dịch và xuất bản còn nhiều hạn chế. Ngoài những bộ quốc sử quan trọng được chú ý nhất ra, tình trạng chung là: bản dịch không có chữ Hán chữ Nôm in cùng,  nhiều công trình dịch có tính lược dịch, còn thiếu tài liệu tra cứu chú giải... Nhiều văn bản do văn tự khó đọc, nội dung phức tạp, văn bản phức tạp vẫn còn tạm gác lại. Đó là chưa kể một bộ phận không nhỏ còn chưa có bất kỳ bản dịch nào. Trước nhu cầu của thời đại mới, tiếp tục dịch thuật phần còn lại của kho di sản là việc tất yếu phải làm, việc có thêm những thế hệ bản dịch  mới, bản in mới cũng là điều tất yếu. Để thế giới và thế hệ trẻ của Việt Nam biết tới và tìm hiểu một cách thuận lợi, chính xác các văn bản cổ, công việc cần tiếp tục là: Trên cơ sở tham khảo các bản dịch cũ, cần xác lập những thế hệ bản dịch mới, chú giải tỷ mỷ hơn, đối chiếu dị bản rộng hơn. Cần in nguyên bản dạng ảnh ấn, kèm bản hiệu điểm, bản chế bản điện tử mới, cần dịch tiếng Anh nếu có thể... Chúng ta đều biết, mấy cuốn sách nổi tiếng của Hán văn cổ đại Trung Quốc như Lão Tử, Luận ngữ... đã có tới hàng trăm bản dịch tiếng Anh khác nhau cùng lưu hành trên thế giới và sẽ còn có nhiều bản dịch nữa trong tương lai. Vấn đề của nó chỉ giản dị là, các nhà nghiên cứu đều tỏ ra không thấy thỏa mãn với các bản dịch đã có và muốn tự mình dịch. Nói như thế để thấy rằng, khi lực lượng và các điều kiện cho phép, việc có nhiều thế hệ bản dịch là điều cần thiết, khoa học. Đó là chưa kể tới việc cần tập hợp và xuất bản những bộ sách lớn theo chủ đề, theo lĩnh vực để thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng và phổ biến. Vấn đề là thế hệ sau phải biết đứng trên vai người khổng lồ sao cho chắc để khỏi ngã, cần có sự hợp tác giữa các thế hệ và sự trung thực, khoa học, để có được những bản dịch sau tốt hơn thế hệ bản dịch trước. Lực lượng Hán Nôm cần nhìn về một phía, cùng nhìn vào sứ mệnh chung của ngành. Việc này khi nào mới xong?   

- Công bố tư liệu dạng số hóa và quốc tế hóa việc khai thác tư liệu. Ngoài những tư liệu có tính chất bí mật quốc gia ra, việc giới thiệu rộng rãi các tư liệu Hán Nôm phục vụ cho việc nghiên cứu về Việt Nam là hết sức cần thiết. Nó tạo điều kiện để các học giả thế giới hiểu đúng, hiểu chính xác về Việt Nam. Chỉ có được sự đối thoại văn hóa và học thuật thực sự nếu các tư liệu được giới thiệu và phổ biến một cách rộng rãi. Trong thời đại ngày nay, vấn đề giữ tư liệu cho riêng mình để có thể hơn người khác chỉ vì có thêm tư liệu này hay tư liệu khác là không còn lý do tồn tại và không còn có vai trò đáng kể nữa. Việc số hóa và khai thác thuận lợi các tư liệu cổ là công việc tốt cho sự truyền thừa văn hóa. Quan sát cách làm của các nước Đông Á trong việc giới thiệu rộng rãi tư liệu cổ, cung cấp miễn phí và tìm kiếm dễ dàng, ta sẽ thấy chủ đích văn hóa lớn của họ. Cũng tương tự như vậy, các tư liệu Thiên Chúa giáo hay Phật giáo đang được khai thác miễn phí trên mạng là công cụ truyền bá rộng rãi các tôn giáo và học thuyết nói trên. Việc số hóa tư liệu này cũng là cách để cho việc bảo quản tư liệu trở nên chắc chắn trên quy mô toàn cầu. Việc số hóa cũng giúp ích cho việc tra cứu, thống kê, tìm kiếm, điều này sẽ giảm thời gian cho người nghiên cứu và đem lại những bằng chứng chính xác hơn cho việc nghiên cứu...

- Hoạt động phổ biến giới thiệu cho đại chúng.Tôi vẫn nghĩ rằng đem các giá trị văn hóa truyền thống, những cái hay cái đẹp "ngọc trung thư" phổ biến rộng rãi cho mọi người trong xã hội là việc không kém phần quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm. Đương nhiên việc này không phải chỉ là việc của người trong ngành Hán Nôm, nó còn là việc của nhiều lực lượng khác, tuy nhiên, đem những cách hiểu chính xác và sâu sắc từ người tiếp cận văn bản Hán Nôm tới tận người thưởng thức, người tiếp nhận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngoài một số hoạt động thư pháp ra, việc nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm vẫn thiên về kinh viện, hàn lâm và trong phạm vi hẹp. Kho sách cần mở cửa hơn nữa với học sinh phổ thông, coi đó như một địa chỉ tham quan văn hóa tuyệt vời nhất. Những triển lãm, trưng bày, nói chuyện, giao lưu, thuyết giảng về Hán Nôm cho số đông là hết sức cần thiết. Cần tận khai thác các phương tiện truyền thông hiện đại để phục vụ cho sự nghiệp này. Các giá trị uyên áo tốt đẹp của cổ nhân trong các văn bản cần phải đến với quảng đại quần chúng, cần đi vào đại chúng. Những lớp ngắn hạn, lớp dạy chữ sơ đẳng cần mở rộng phục vụ nhu cầu xã hội. Hiện nay, nhà chùa đang quay lại vai trò văn hóa đa dạng gần với vai trò nó đã từng gánh vác ở thời Lý, Trần, tuy nhiên khung cảnh rất phức tạp và còn rất nhiều điều phải bàn.

- Đổi mới và hội nhập thế giới về phương pháp trong nghiên cứu và giảng dạy. Muốn hoàn thành sứ mệnh truyền thừa văn hóa,  việc đổi mới về phương pháp nghiên cứu, phương pháp tiếp cận văn bản, khai thác văn bản cũng đặt ra gay gắt. Cần phải hội nhập và tiếp thu  các phương pháp nghiên cứu tiên tiến trên thế giới, chuẩn bị nhân lực để cập nhật với những lĩnh vực nghiên cứu mới, trong đó những phương pháp nghiên cứu mang tính liên ngành, nghiên cứu theo hướng sử dụng tối đa ưu thế của công nghệ thông tin ngày được chú trọng. Ngoài ra, những lĩnh vực học thuật mới hình thành tại Đông Á cũng cần được tiếp thu và phổ biến, chẳng hạn nghiên cứu giản bạch học, nghiên cứu so sánh, nghiên cứu theo hướng giải thích học...

3. Công việc cần làm trong lĩnh vực đào tạo

Những nhiệm vụ và đòi hỏi như trên đặt ra những yêu cầu mới cho việc đào tạo Hán Nôm trong nhà trường từ cử nhân tới tiến sĩ. Việc đào tạo cần tạo ra một thế hệ các nhà nghiên cứu Hán Nôm mới trong thời đại toàn cầu hóa, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe hơn, phức tạp hơn trong công việc.

- Một vài mô tả ở trên cho thấy, đó là sự nghiệp lớn, nặng nề và còn rất nhiều việc phải làm. Ngành Hán Nôm cần thu hút được nhiều người giỏi vào học. Đây là việc ai cũng biết là khó, nhưng không thể không làm. Không có nhiều người có tư chất tốt, thậm chí cần năng khiếu sự nghiệp khó có thể phát triển được. Công tác tư vấn tuyển sinh và các chế độ đãi ngộ là hết sức quan trọng.

- Cần đào tạo để chuẩn bị nhân lực  cho việc giải mã những văn bản khó, chẳng hạn văn bản chữ thảo. Không thể đọc loại văn bản này mà không biết viết chữ thảo một cách điêu luyện. Cử người đi học tại các nước Đông Á là việc tốt nhất để giải quyết vấn đề này.

- Để có thể có những thế hệ bản dịch mới, năng lực dịch và giải mã văn bản thế hệ sau phải cao hơn. Điều này rất khó trong tình hình hiện nay nhưng tất yếu phải thế. Nó là nhiệm vụ nặng nề đặt ra cho những người làm công tác đào tạo nhân lực, là trách nhiệm của thế hệ các nhà Hán Nôm học cao niên đối với thế hệ sau.

- Cần có những điều kiện tốt để phục vụ cho công tác đào tạo, trong đó điều kiện tư liệu, thiết bị hiện đại, phương pháp tiên tiến, gắn liền đào tạo với nghiên cứu, đưa sinh viên tham gia vào công việc nghiên cứu từ rất sớm là hướng đi cần thiết. Phải tận dụng được những cơ hội thời đại đem lại, về sách công cụ, sách tra cứu, mạng internet để phục vụ cho việc đào tạo.

- Cần trang bị cho sinh viên Hán Nôm các tri thức liên ngành. Sinh viên Hán Nôm cần có những khả năng tự trang bị kiến thức mang tính tích lũy gia tăng, tự tích lũy để đối phó với thời đại bùng nổ thông tin và tri thức ngày càng gia tăng. Cần phát triển các năng lực đa dạng, những kỹ năng mà những người nghiên cứu cổ học trên toàn thế giới cần có.  Đối với sinh viên và học viên sau đại học, năng lực ngoại ngữ và việc sử dụng công nghệ thông tin, kỹ năng tìm kiếm tư liệu, kỹ năng điền dã, tiếp cận và xử lý văn bản một cách chủ động là hết sức cần thiết. Đối thoại và giao lưu quốc tế trong nghiên cứu Hán Nôm học là việc thế hệ nghiên cứu mới phải thực hiện được một cách tự tin. Sinh viên Hán Nôm cũng cần là những người hoạt động thực tiễn, những người biết cách hoạt động phổ biến tuyên truyền văn hóa. Họ không thể chỉ là những "mọt sách", mà còn cần là những nhà hoạt động xã hội.

- Tất cả những đòi hỏi trên sẽ không thể đáp ứng được nếu trong đào tạo chúng ta không tạo ra được những người đam mê nghề nghiệp, có ý thức trân trọng cao nhất đối với di sản Hán Nôm của cha ông. Không gì có thể thay thế được việc tự nhiệm gánh vác sứ mệnh truyền thừa văn hóa, sứ mệnh không mới nhưng cần những người mới để gánh vác. Thế hệ đi trước cần truyền nhiệt huyết và tầm nhìn cho thế hệ kế tiếp. Điều này có thể còn quan trọng hơn cả việc rèn kỹ năng và cung cấp kiến thức.

( Bài viết Hội thảo kỷ niệm 40 năm thành lập ngành Hán Nôm, khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG HN)

 Nguyễn Kim Sơn

Tuesday, October 09, 2012

Tầm nhìn toàn cầu trong việc đổi mới giáo dục và đào tạo Việt Nam



Mấy hôm nay phương tiện thông tin đại chúng nói nhiều về đổi mới giáo dục đào tạo, ngẫm ra cũng là việc của mình nên góp vài dòng.

Không thể phủ nhận giáo dục đào tạo hiện đang có những việc không ai không thấy “chướng tai gai mắt”. Có quá nhiều vấn đề cần đến một cuộc điều chỉnh lớn. Tuy nhiên nên có cách nhìn khách quan hơn đối với thực trạng yếu kém bất cập hiện nay của giáo dục và đào tạo Việt Nam. Trong khi chúng ta đặt kỳ vọng quá lớn vào sự đổi mới giáo dục đào tạo thì những điều kiện để thực hiện cho sự đổi mới lại hết sức hạn chế. Giáo dục đào tạo phải chịu sự tác động lớn từ các nhân tố xã hội khác ngoài phạm vi giải quyết của giáo dục đào tạo. Ở đây , người ta công bố  kết quả điều tra đối với 500 giáo viên và cho thấy quá 50% người trả lời: nếu được chọn lại nghề nghiệp họ sẽ không chọn nghề nhà giáo. Về kết quả điều tra này, tôi muốn bình luận thêm. Từ trước tới nay, nhà giáo vốn vẫn nghèo (thu nhập thấp), nhưng trước đây thì họ có thể yên với cái nghèo để theo nghề, nhưng hiện giờ trong tình trạng kinh tế thị trường len lỏi tác động khắp nơi, họ không yên với cái nghèo được nữa. Đây là sự điều chỉnh hệ giá trị trong toàn xã hội. Những người trả lời không chọn lại nghề nhà giáo không có nghĩa tất cả số đó không yêu nghề và cũng không nên đồng nhất sự lựa chọn đó với sự "hối hận". Nhà giáo cũng là con người, họ không phải siêu nhân. Đó là chưa kể tới việc kinh tế xã hội phát triển, nhiều nghề mới xuất hiện, cơ hội lựa chọn nghề nghiệp rộng lớn, người ta có thể nghĩ về một công việc phù hợp hơn với mình cũng là chuyện bình thường.

Từ khi mở cửa hội nhập thế giới, chúng ta có cơ hội so sánh và nhìn lại nền giáo dục đào tạo nước mình, những điểm yếu kém vì thế trở nên rõ ràng hơn.  

Xu hướng du học ngày càng phát triển, nhưng chúng ta không nên xem việc có nhiều người đi du học là một minh chứng cho việc giáo dục và đào tạo nước nhà yếu kém. Có một phần nhỏ nguyên nhân chứ không phải là toàn bộ. Các nước châu Á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ... đều có các trường đại học lọt vào TOP 100 của thế giới, nhưng hiện nay hàng năm họ vẫn có tới cả triệu người rùng rùng sang châu Âu, châu Mỹ để du học. Và ngược lại, hàng năm cũng có rất nhiều sinh viên Âu-Mỹ tìm sang châu Á du học. Đó là vì cơ hội học tập, môi trường và phạm vi học tập đang điều chỉnh trên quy mô toàn cầu, người ta có nhiều cơ hội hơn để tìm kiếm và lựa chọn chỗ học tập phù hợp với khả năng và lĩnh vực chuyên môn của mình

Toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, một "thế giới phẳng" trong tầm liên hệ đang hình thành. Nhu cầu cần liên thông, chia sẻ, hợp tác của nhân loại ngày càng lớn. Lĩnh vực giáo dục cũng đang toàn cầu hóa mạnh. Có những trường đại học mang tính toàn cầu, len lỏi tới cả các quốc gia trước đây vốn ít hội nhập. Giáo dục đại học vươn tới tận thôn cùng xóm vắng qua mạng internet. Hiện có quá nhiều vấn đề chung mà nhân loại cùng phải chung tay giải quyết mà trước tiên là thông qua giáo dục. Như vậy nền giáo dục cần hướng tới những mục tiêu chung của nhân loại để điều chỉnh chứ không chỉ là vấn đề của riêng một cộng đồng nhỏ hẹp nào

Giáo dục và đào tạo cần đổi mới thường xuyên. Đổi mới là một tất yếu. Các đại học lớn trên thế giới phải thay đổi từng ngày để vươn lên theo kịp thời đại, để có thể cạnh tranh với các trường đại học khác. Điều đó cũng giống như việc đổi mới công nghệ trong lĩnh vực chế tạo. Kể từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra trên quy mô toàn cầu từ năm 2007 tới nay, giáo dục đào tạo cũng đang tìm đường hướng để điều chỉnh trên quy mô lớn. Triết lý, phương pháp, nội dung, công nghệ, quản lý giáo dục đào tạo đang có những chuyển biến từng ngày. Giáo dục Việt Nam  là một bộ phận của giáo dục thế giới. Việc đổi mới giáo dục của Việt Nam không thể chỉ là vì tự bản thân nó có nhiều vấn đề. Đổi mới giáo dục và đào tạo là một tất yếu khách quan, không nên nhìn nó chỉ là việc làm có tính đột xuất để đối phó với vấn đề này hay vấn đề khác một cách bị động. Chúng ta vì một mục tiêu lớn và chủ động để đổi mới, có cái vì bất cập mà phải đổi mới, nhưng cũng có cả những thứ đang làm tốt vẫn cần đổi mới để tốt hơn nữa, có chỗ chưa nảy sinh vấn đề nhưng vì những mục tiêu xa hơn chúng ta vẫn phải điều chỉnh. Giáo dục Việt Nam cần điều chỉnh để hòa dòng cùng với công cuộc vận động lớn của thế giới. Cần thiết phải phân tích những xu hướng lớn mà giáo dục đào tạo thế giới đang làm để làm. Điều này khiến cho việc đổi mới giáo dục ở Việt Nam có chuẩn để tự điều chỉnh. 

Sunday, July 10, 2011

KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN: TỪ THỰC TIỄN XÃ HỘI TỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC


Sau khi con số thống kê từ đợt thu hồ sơ tuyển sinh vào các trường đại học cao đẳng trong cả nước được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, tháng 5 vừa qua, người ta bắt đầu chú ý và thảo luận nhiều về vấn đề suy giảm số lượng thí sinh thi vào các khối C và D nói riêng và thi vào khối ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung. Có những trường phổ thông ở Hà Nội, trong số trên 2000 hồ sơ đăng ký dự thi đại học chỉ có 02 hồ sơ thi khối C. Những con số này đã thực sự gây sốc cho dư luận.
Sự suy giảm này thực ra đã băt đầu từ nhiều năm nay. Trường hợp của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dẫu đứng trong số các trường khá dễ dàng trong tuyển sinh và điểm tuyển đầu vào thuộc loại nhóm cao, nhưng bình quân mỗi năm số thí sinh thi khối C cũng giảm khoảng 10%, tính trong vòng 5 năm trở lại đây. Sự sụt giảm này là có hệ thống, là một xu hướng trong thực tế chứ không phải hiện tượng bất thường, nhất thời. Theo tôi vấn đề này có tính tất yếu do rất nhiều nguyên nhân. 
Như trên đã nói, việc học sinh phổ thông ít chọn thi khối C, D cũng có nghĩa là số người lựa chọn nghành nghề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội  nhân văn giảm. Người ta dễ nhìn nó là vấn đề de dọa nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực thuộc khối ngành nghề này. Đó là sự thực, nhưng vấn đề cần nhìn nhận  một cách sâu xa hơn và theo hướng đó chúng ta thấy vấn đề có phần nghiêm trọng hơn những gì mà người ta thảo luận sôi nổi trong mấy tuần nay. 
Sau mấy chục năm đổi mới, sự triển khai chuyển đổi nền kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường đã đạt được những thành tựu lớn, bộ mặt xã hội đã có rất nhiều sự thay đổi. Nhưng đồng thời một sự thay đổi sâu sắc hơn, to lớn hơn đối với con người và xã hội cũng đã diễn ra theo, đó là sự thay đổi hệ giá trị, các quan niệm giá trị với ý nghĩa là cái lõi của nền văn hóa. Giá trị tinh thần mà các lĩnh vực thẩm mỹ, nghệ thuật, văn chương, lịch sử, triết học mang tới cho con người, tạo ra sự thỏa mãn tinh thần  con người, gắn kết và điều hòa xã hội bị suy giảm. Tâm lý xã hội đề cao vấn đề lợi ích, sống thực tế, thiết thực thậm chí là thực dụng hơn.  Đây là kết quả tất yếu của chuyển đổi nền kinh tế, đổi mới, phát triển kinh tế, nhưng những vấn đề xã hội, vấn đề con người chưa được chú ý đúng mức. Chưa chú ý đứng mức thì chưa có chính sách phù hợp và những  giải pháp để điều chỉnh cho phù hợp.  Nó là một nguy cơ nhân văn, nguy cơ văn hóa nguy cơ đối với  con người và xã hội nói chung.
Học sinh ngày nay chú ý và theo đuổi các ngành như công nghệ, kỹ thuật,  kinh tế, tài chính, ngân hàng… nhiều hơn bởi cơ hội việc làm lớn hơn, thu nhập cao hơn. Cũng có nghĩa là người Việt bây giờ, đặc biệt là giới trẻ đặt vấn đề lợi ích lên cao hơn, thực dụng hơn. Có nhiều người cho rằng, sự tăng trưởng kinh tế trong những năm qua diễn ra quá mạnh mẽ, nó cần nguồn nhân lực lớn, tạo thành cơn lốc xoáy cuốn nguồn nhân lực vào đó, làm lu mờ các lĩnh vực xã hội và nhân văn khác. Theo tôi điều này cũng có một phần đúng, nhưng nó không phải là quy luật thông thường của các quốc gia trong quá trình phát triển. Kinh tế phát triển, đời sống con người nâng cao thì các lĩnh vực xã hội, nhân văn, nghệ thuật cũng đương nhiên phải có thêm sức mạnh để phát triển  chứ không thể vì thế mà lụi tàn. Sự phát triển nền kinh tế mà tạo ra sự khủng hoảng về xã hội và nhân văn như vậy là sự phát triển không bình thường. Phải chăng những người  làm kinh tế chưa thực nhận thức đúng về phương pháp phát triển kinh tế một cách toàn diện? Phải chăng các nhà  quản trị kinh doanh chưa nhìn thấy sức mạnh kinh tế từ chính các hoạt động xã hội nhân văn? Trong nền kinh tế tri thức như hiện nay,  các sản phẩm bán ra trên thị trường, hàm lượng trí tuệ xã hội nhân văn ngày càng lớn. Từ  thẩm mỹ, mẫu mã, tâm lý tiêu dùng, các lĩnh vực truyền thông khác  đều hết sức quan trọng. Đó là chưa kể tới  khoa học quản lý điều hành sản xuất, quan hệ doanh nghiệp, phát triển nhân lực, quan hệ khách hàng, tinh thần người sản xuất, hoạt động quảng bá doanh nghiệp… đều thuộc lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn. Các lĩnh vực dịch vụ xã hội, các ngành công nghiệp giải trí thực sự là ngành kinh tế mũi nhọm đem lại nhiều tiền bạc chẳng kém các lĩnh vực công nghệ cao khác tại nhiều quốc gia trên thế giới. Như vậy  sự suy giảm sức thu hút của các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn vừa là dấu hiệu của sự khủng hoảng hệ giá trị, khủng hoảng nhân văn, đồng thời cũng cho thấy chính sự phát triển kinh tế có vấn đề chưa hợp lý.
Vấn đề số thí sinh thi vào các ngành xã hội nhân văn giảm mạnh sẽ ảnh hưởng tới cơ cấu nguồn nhân lực trong xã hội, đó là rõ ràng, nhưng  đó mới chỉ là một phần của nguy cơ. Vấn đề nghiêm trọng hơn  lại ở chỗ, trong số ngày càng ít đi  số thí sinh thi các ngành khoa học xã hội và nhân văn đó, số thực sự có tư chất tốt, học lực xuất sắc lại rất ít coi các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn là đối tượng đam mê.  Các lĩnh vực xã hội nhân văn có thể không cần số lượng nhiều như nhân lực kỹ thuật, công nghệ, tài chính ngân hàng… nhưng lại cần những người rất giỏi, chẳng hạn như triêt học, khảo cổ, tâm lý, nghệ thuật học, chính trị học….Không có người giỏi thi vào chúng ta sẽ thiếu chuyên gia trong các lĩnh vực này. Sự điều chỉnh và định hướng cho xã hội lệ thuộc rất nhiều vào lực lượng trí thức này. Tôi thấy dư luận mới chỉ quan tâm tới ít người thi mà còn chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề  ít người giỏi thi.
Điều hệ trọng nữa cũng cần phân tích thêm là, trong sự suy giảm thí sinh thi khối C, D, tình hình có khác nhau giữa các ngành. Nhiều ngành xã hội như luật học, kinh tế, quản trị kinh doanh, ngoại ngữ, báo chí, truyền thông… vẫn thu hút khá nhiều thí sinh thi, nhiều ngành còn tăng hơn cả năm trước. Số ngành bị giảm mạnh số thí sinh thi lại là những ngành khoa học cơ bản, những ngành mà vai trò của chúng có tác động rất lớn tới  đời sống tinh thần xã hội, chẳng hạn các ngành triết học, nhân học, ngôn ngữ, thông tin thư viện, lịch sử, văn học… Như vậy cũng có nghĩa là  sự sụt giảm của khối xã hội và nhân văn cần nhìn nhận đối với từng ngành cụ thể và khi tìm giải pháp cũng cần đề ra những giải pháp khác nhau cho từng ngành, hay nhóm các ngành.
Một số ý kiến đã bày tỏ chú ý nhiều tới  việc hãy có chính sách ưu tiên, khuyến khích, ưu đãi, chăm lo cho các lĩnh vực này, tới người học, người nghiên cứu, tới đãi ngộ trong lao động, nghề nghiệp… Tôi nghĩ hướng giải pháp như vậy cần thiết, nhưng mới chỉ đúng một phần. Hướng này chủ yếu cho các ngành cơ bản, có liên quan tới chiến lược và lợi ích quốc gia ( vấn đề này  không chỉ thuộc khối xã hội nhân văn mà ở khối khoa học tự nhiên cũng gặp) thì cần có đầu tư lớn. Những ngành này không những không thu học phí mà còn cần cấp học bổng, cần đầu tư mạnh. Tuy nhiên đó vẫn chỉ là một phần của giải pháp, nó không căn bản  và lâu dài. Người ta dẫu được miễn học phí, được ưu tiên, nhưng nghề nghiệp sau này không đem lại thu nhập tốt và cơ hội phát triển tốt thì người ta vẫn không theo học và làm việc tại các ngành đó.
Để có được sự thay đổi mang tính gốc rễ, cần có một giải pháp tổng thể, có hệ thống. Cần phải có điều tiết vĩ mô trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Cần phải có những chính sách, những biện pháp để đối phó uốn nắn sự thay đổi trong định hướng giá trị của xã hội theo hướng lệch lạc.
Tôi cũng đã tham gia nhiều cuộc tư vấn tuyển sinh cho học sinh phổ thông chuẩn bị  chọn trường để thi đại học, câu hỏi mà các em thường dùng nhất là nghề này nghề khác có dễ tìm việc không, thu nhập có cao không, thi có dễ đỗ không, mà hầu như không có ai hỏi rằng, em như vậy như vậy có phù hợp với nghề ấy không,  nghề nào thì phát huy năng lực của em tốt nhất. Lại càng vắng bóng loại câu hỏi rằng nghề nào sẽ giúp em sống tốt nhất, có thể giúp đời nhiều nhất. Cái từ cửa miệng “  cống hiến” đã bị người ta dùng quá nhiều trong các thập kỷ về trước tới mức mòn hết cả nghĩa đi, thậm chí còn đang chuyển sang nghĩa trào phúng. Điều chỉnh hệ thống quan niệm giá trị,  cho thế hệ trẻ là một giải pháp vĩ mô, giải pháp căn bản.
Về phía những người hoạt động trong  nền kinh tế, quản trị kinh doanh một cách khôn ngoan cần tìm lấy sức mạnh và sự góp mặt của các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Mặt khác, những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng cần phải điều chỉnh chính mình để thích nghi với sự thay đổi của đời sống xã hội, của kinh tế và văn hóa. Nhiều lĩnh vực đã hàn lâm thì vẫn phải hàn lâm cho đến nơi đến chốn, nhưng vẫn phải chú ý tới nhu cầu xã hội, giai quyết các vấn đề xã hội. Những ngành ứng dụng thì lại càng phải tăng tính thực hành, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, gắn bó mật thiết lĩnh vực của mình với đời sống kinh tế của đất nước. Một đất nước phát triển thực sự, sẽ không có sự phân biệt rạch ròi đâu là các lĩnh vực kinh tế, đâu là văn hóa. Về bản chất chúng là một.
Một số yếu tố có tính kỹ thuật cũng cần chú ý, chủ yếu là công việc của hệ thống giáo dục. Nên bỏ phân ban ở bậc học phổ thông  càng sớm càng tốt. Việc phân ban ở phổ thông không giải quyết được  gì về mặt định hướng nghề nghiệp. Phổ thông cần phân luồng mà không nên phân ban. Phân luồng xem số nào nên theo học nghề, trung cấp, nhóm nào có thể học lên đại học. Không nên phân ban A,B,C,D…. vì ngay cả các ban này cũng chưa  phải là những tri thức thực sự cần thiết cho nghề nghiệp sẽ chọn. Học sinh chưa hiểu nghề mà đăng ký học theo ban, sau khi học rồi mới tìm hiểu nghề thì việc chọn nghề đã bị hạn định từ lúc chưa hiểu về nó mất rồi. Việc phân ban sẽ tạo ra sự học lệch lạc, phát triển không cân đối, nó đi ngược lại với tinh thần giáo dục con người phát triển toàn diện. Mặt khác, phân ban và thi theo khối là không phù hợp với việc chọn người của các trường đại học và các ngành nghề vốn dĩ hết sức phong phú, đa dạng. Nó vừa không đúng nhu cầu tuyển sinh, vừa thiếu vừa thừa. Theo tôi, nên bỏ phân ban ở bậc phổ thông và thay đổi toàn diện cách tuyển sinh đại học. Tất cả thí sinh muốn vào học bậc đại học đều cần phải qua kỳ thi tiếng Việt ( tiếng Việt chứ không phải văn học) và một môn khoa học tổng hợp. Những môn thi loại này nhằm kiểm tra tri thức, khả năng, của một người cần có để vào học ở bậc đại học. Việc thi các môn này giao cho các cơ cơ quan đánh giá độc lập và học sinh phổ thông có thể tích lũy các chứng chỉ  đó dần dần trong quá trình học phổ thông. Ngoài ra các trường tùy theo tình hình đặc điểm nghề nghiệp của mình mà có một vài môn thi riêng, tự quyết định lấy.
Một việc đương nhiên cần điều chỉnh ngay nữa chính là việc dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn ở bậc phổ thông như văn học, lịch sử, giáo dục công dân…Sách giáo khoa thì chi li, xơ cứng, nó cổ vũ cho học thuộc và công  nghệ học hơn là cảm nhận, thưởng thức, khích lệ tưởng tượng và sáng tạo.
Đối với các trường đại học, việc tư vấn tuyển sinh, thông tin hướng nghiệp cũng cần làm thường xuyên, làm sớm, không nên để dồn vào một vài kỳ cuộc có tính phong trào trước các đợt đăng ký tuyển sinh….
Tóm lại đây là một vấn đề xã hội lớn, cần một giải pháp tổng thể, trong đó có vai trò điều tiết vĩ mô của Chính phủ, vai trò chủ chốt của Bộ giáo dục và Đào tạo của các cơ quan truyền thông đại chúng và  của cả các bậc cha mẹ học sinh và chính các em học sinh.
Và lời cuối cùng mà tôi muốn bày tỏ với các bạn học sinh phổ thông  chính là, dù bất kỳ là ngành nào, khối nào,  chỉ  có thể là người nắm vững tri thức nghề, tốt hơn nữa là thật giỏi, những cơ hội rộng lớn sẽ mở ra trước mắt, còn dù là học nghề nào, mọi cơ hội đều đóng cửa trước những người thụ động,  lười biếng.