Showing posts with label Nho giáo Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Nho giáo Việt Nam. Show all posts

Wednesday, December 19, 2012

HOẠT ĐỘNG DIỄN DỊCH HÁN – NÔM KINH ĐIỂN NHO GIA CỦA CÁC NHÀ NHO VIỆT NAM – PHÂN TÍCH TỪ GÓC ĐỘ MỤC TIÊU VÀ BẢN CHẤT



NGUYỄN KIM SƠN[i]

1. Diễn Nôm – một loại hoạt động kinh học của nhà nho Việt Nam
Nói tới kinh học của Nho gia, người ta nghĩ ngay tới những hoạt động như truyện, chú, tiên, sớ, luận, khảo, giải nghĩa, diễn nghĩa, huấn hỗ, khảo chứng…. Các hoạt động trên nhằm làm rõ hai phương diện cơ bản của kinh điển: phương diện văn bản và phương diện nghĩa lí. Mục tiêu của các hoạt động kinh học là nhằm truyền bá, tiếp nhận kinh điển một cách tốt nhất, hoặc đúng theo một ý đồ tư tưởng của một cá nhân hoặc một học phái. Sự truyền bá và ảnh hưởng của kinh điển Nho gia ra chiều rộng của không gian và sự duy trì theo chiều lịch đại của thời gian, sức lan tỏa cùng sự tái sinh của Nho giáo được diễn ra không ngừng cũng thông qua chính các hoạt động kinh học.
Nhìn các hoạt động của nhà nho Việt Nam từ góc độ dùng chữ Nôm và gắn với kinh điển Nho gia (có thể gọi là kinh Hán Nôm), chúng ta thấy về mục tiêu, nó hoàn toàn thống nhất với mục tiêu của các hoạt động kinh học nói chung, tức làm thế nào để làm sáng tỏ nghĩa lí của kinh sách, thể hiện được cách hiểu và chuyển tải được tốt nhất nghĩa lí của kinh điển. Nó bao gồm cả việc phục vụ truyền bá giảng dạy và mang lại sự hứng thú tự thân cho người làm việc diễn giải.
Không phải ngẫu nhiên, nhan đề của các tác phẩm diễn Nôm thường là diễn nghĩa, giải nghĩa, diễn ca, quốc âm ca, thích nghĩa, giải nghĩa, ca quyết, ước giải, lược giải, giải âm…. Những nhan đề này gợi ý cho ta một loại quan niệm của nhà nho đối với công việc của họ lấy kinh điển Nho gia làm đối tượng. Kết hợp với thực tế tìm hiểu, phân tích các văn bản diễn Nôm, ta thấy hầu hết các công trình loại này đều chủ yếu nhằm vào phương diện nghĩa lí của kinh điển. Rất ít trường hợp nhằm vào khảo chứng văn bản, biện biệt sự sai dị của văn bản. Một vài văn bản nói là “giải âm”, nhưng công việc chính của họ lại là dùng âm Nôm để giải nghĩa lí của kinh sách hơn là một văn bản chú giải âm đọc thuần túy (trường hợp Thi kinh giải âm).
Trong lời tựa viết cho cuốn Chu Dịch quốc âm giải nghĩa, Phạm Quý Thích cũng đánh giá công trình dùng thơ lục bát để diễn nghĩa Kinh Dịch của Đặng Thái Phương là một loại công việc huấn hỗ kinh điển, và sự đề cao của ông đối với công trình này cũng là đề cao theo hướng đó.
Sự học của nhà nho cốt ở chỗ hiểu thấu nghĩa lí mà thôi. Điều gọi là huấn hỗ là sao? Đại khái lời văn trong kinh truyện đều là nghĩa lí của thánh hiền chứa đựng ở đó, nếu không nhờ huấn hỗ thì không thể rõ được. Bản Chu Dịch quốc âm quyết của ông họ Đặng là thuộc về dòng huấn hỗ đó chăng?
儒者之學義理而已矣。而有所謂訓詁何哉蓋經傳之文皆聖賢義理所在而非訓詁則不可得而見是固不可少也。鄧翁《周易國音訣》,其訓詁之流歟?(周易國音歌序
Đương nhiên Phạm Quý Thích cũng cho rằng công việc của Đặng tiên sinh là theo hướng làm rõ nghĩa lí của sách, nhưng là diễn nghĩa hay cắt nghĩa từng câu, từng chữ, từng đoạn theo cách làm của huấn hỗ học.
Quan sát cách làm của các văn bản dùng Nôm hướng tới kinh đin Nho gia, chúng ta thấy hầu hết đều được thực hiện theo cách lấy một câu hay một ngữ đoạn của kinh văn làm gốc, đi liền đó là một đoạn văn Nôm giải nghĩa cho đoạn chữ Hán đó. Trong trường hợp dùng Nôm thể thơ Lục bát, thì việc trình bày thường là một câu chính văn kinh đặt tại nửa trên của trang văn bản và câu lục bát diễn nghĩa đi cùng ở nửa dưới của trang văn bản. Các văn bản khắc in và hầu hết văn bản chép tay đều được trình bày  theo cách: phần chữ Hán in to, còn phần chữ Nôm in nhỏ hơn với một tỉ lệ chênh lệch lớn.

Thi kinh giải âm, quyển 1.
Văn bản này thuộc loại vừa kết hợp giải nghĩa vừa kết hợp giải âm
Cách trình bày trong Trung dung ước giải


Có văn bản trình bày theo cách: một câu, hoặc đoạn văn Hán và một câu dịch Nôm đi kèm ngay sau đó, theo tuần tự trước sau, từ đầu cho tới hết toàn văn bản. Cách làm này có tính chất đối dịch. Có văn bản để cả phần kinh văn, chú giải bằng chữ Hán và chú giải bằng Nôm đi kèm.
Tất cả các bản kinh Hán Nôm đều chung một tình trạng: không có văn bản nào thuần túy chỉ nhằm vào giải âm, hoặc thuần túy khảo chứng thảo luận về góc độ văn bản. Hầu hết đều nhằm vào nghĩa lí của sách, chuyển dịch nội dung, giảng giải về nội dung của sách. Không có văn bản nào thuần túy chỉ có phần dịch Nôm mà việc trình bày thoát li khỏi văn bản chữ Hán để tồn tại độc lập. Cũng có nghĩa là không có một bản dịch Nôm kinh điển nào tồn tại độc lập với ý nghĩa tự thân nó. Điều này cho thấy, quan điểm của người làm là việc song dịch, đối dịch, đối chiếu có cả hai phần là cách tốt nhất, là lựa chọn tối ưu cho việc truyền tải. Nhưng điều này cũng biểu thị một ý nghĩa khác là phần dịch Nôm chưa thể thay thế chính văn chữ Hán để tồn tại độc lập như các loại bản dịch khác thời  hiện đại. Dĩ nhiên nó là phần song dịch, đối dịch vừa bảo lưu văn bản gốc vừa có phần dịch kèm để đảm bảo hiểu bản gốc tốt nhất. Tuy nhiên cũng có thể nhận thấy, nếu tách chính văn chữ Hán có thể tự nó khó hiểu, không đầy đủ, thiếu chỗ dựa. Cách trình bày phần kinh văn chữ Hán viết lớn hơn, viết phần phía trên, phần diễn nghĩa, diễn Nôm viết nhỏ hơn, được đặt bên dưới, ngoài sự bày tỏ thái độ tôn sùng với kinh điển thánh hiền, nó còn có ý tôn trọng bản gốc chữ Hán. Bản chữ Nôm chỉ có ý nghĩa bổ sung hỗ trợ, có ý nghĩa thứ yếu bổ sung thêm cho phần chính văn kinh chữ Hán. Và như vậy, tuy là các phần diễn dịch, chuyển dịch, nhưng vai trò của nó chưa vượt ra ngoài công việc cước chú, chú giải vốn đã rất có truyền thống trong kinh học Nho gia. Cái khác biệt chỉ là ở chỗ dùng một loại văn tự khác, cách diễn đạt khác để chú giải. Và như vậy, việc dịch này không nhằm thay thế cho bản chữ Hán, không nhằm đạt tới mục tiêu người ta hiểu kinh điển mà không cần biết tới bản chữ Hán. Dịch thuật, nhưng dành cho đối tượng biết cả ngôn ngữ của bản gốc và bản dịch, dịch để giúp cho hiểu bản gốc chứ không phải dừng ở chỗ tiếp nhận tư tưởng từ bản dịch. Khía cạnh này của vấn đề càng cho phép khẳng định việc dịch Nôm kinh điển vừa giống lại vừa khác việc chuyển dịch ngày nay. Nó chưa thoát khỏi phạm vi của truyền thống chú sớ.
Cũng nhìn từ cách trình bày, chúng ta thấy các chính văn chữ Hán của kinh điển vẫn là phần đặc biệt quan trọng, nó là bình diện thứ nhất của văn bản và là đối tượng tiếp nhận chính. Nó có liên quan tới mục tiêu của việc diễn dịch Nôm. Giáo dục khoa cử Nho học vẫn là một nền giáo dục khoa cử chữ Hán. Nhà nho vẫn cần phải học kinh điển chữ Hán để đi thi. Việc diễn Nôm kinh điển có thể cũng được dùng trong giáo dục, nhưng nó cũng chỉ  có tính chất hỗ trợ cho người học bậc nhập môn, sơ học. Nó cũng không phải nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu chỉ để hiểu kinh điển tách rời việc khoa cử. Kinh điển chữ Hán không thể thay thế, bản dịch Nôm chưa thể thay thế và không có cơ sở xã hội và học thuật để thúc đẩy nó vươn lên để đủ sức thay thế.
Diễn ca không phải là thảo luận và bày tỏ quan điểm tán thành hay phản đối, hoặc nêu những cách giải thích hoàn toàn riêng như các hoạt động kinh học khác. Nó là một loại chú giải, huấn thích, thông diễn. Nói cách chính xác hơn, diễn Nôm, diễn ca, diễn nghĩa là sự tích hợp của các phiên dịch, diễn dịchchú giải, chú sớ.
2. Mục đích của việc diễn dịch Nôm
Mục đích của việc diễn dịch Nôm một văn bản kinh điển Nho gia dĩ nhiên không đơn nhất. Diễn Nôm, đặc biệt là diễn sang dạng thơ, mục tiêu hàng đầu theo tôi không phải để làm cho kinh văn dễ nhớ dễ thuộc, dễ lưu hành mà trước hết nó là con đường làm cho tư tưởng Nho gia phù hợp hơn với tư duy người Việt, nhu cầu tư duy tư tưởng, triết học bằng tiếng Việt, nó thỏa mãn trước hết cho chính người làm việc này.
Căn cứ vào chính lời của các nhà nho bàn về công diễn dịch Nôm chúng ta có được những thông tin có thể xem là sát hợp với thực tế nhất. Lê Quý Đôn nói trong lời tựa cho bản in lại sách Tứ thư ước giải:
Chữ nào câu nào cũng được sáng tỏ rõ ràng. Nhưng vẫn còn có kẻ hậu học cho rằng khó đọc, tại sao lại thế? Tạo hóa sinh ra tài năng, thường thì được nhiều phần “hùng” [mạnh khỏe] mà được ít phần “anh” [tài trí]. Người cao minh thì kiến thức thông tuệ, xem lướt nghe qua là tự nhiên thấm nhuần, thông hiểu chẳng trở ngại gì. Còn đối với những kẻ trung bình trở xuống, từng trải chưa nhiều, thức ngộ chẳng thấu, thì sao thông tỏ cho được! Còn lũ trẻ miệng còn hôi sữa, thì lại càng khó khăn hơn nữa. Chúng ở tuổi lên năm sáu bảy, chỉ hiểu những lời nói bình thường, cha mẹ dạy cho biết số đếm một hai ba bốn, các mùa xuân hạ thu đông, mà còn chưa lĩnh hội hết được, thì sao dạy nổi cái ý sâu nghĩa lớn của cổ nhân để chúng nhanh chóng hiểu cho trọn vẹn! Huống hồ, tiếng quốc âm nước ta lại khác với Trung Quốc, việc dạy dỗ lại càng khó. Vậy nên các bậc tiên nho mới diễn ra âm bản địa làm bộ Tứ thư ước giải tăng bổ đại toàn bị chỉ, để tâm sức tới cả những điều nhỏ bé nhất. Họ đã sớm lo nghĩ cho những kẻ [trung bình trở xuống và miệng còn hôi sữa] kia vậy.[ii]
一字一句靡不坦然明白。然而后之學者猶或以為難讀,又何也?造化生才,往往得雄之分多,得英之分少。高明之人見聞敏洽,一經耳目自然融液貫通,有何罣礙。若夫中人以下,涉獵未多,識悟不到,寧無全牛之病。至於齠齔之子,又有甚焉者矣。彼于五六七歲時僅解尋常言語,父母教之三四七八之數,春夏秋冬之序,尚未能一一領會,矧其誨之以古人之微旨大義而遽能了了然耶!况我國音語又與中國不同,教之尤有難者。是故先代師儒 方土之音為四書約解增補大全備旨,豪釐秒忽無所不用其力焉。其為此輩慮也遠矣。(重刊四書約解序)
Lê Quý Đôn không phải là người soạn ra sách Tứ thư ước giải, việc làm đó theo ông là việc của tiên nho, tức của những người thuộc thế hệ trước ông. Nhưng ông là người đã sử dụng chúng cho việc giảng giải và học tập kinh điển, đồng thời là thế hệ gần gũi, cùng là nhà nho nên ý kiến của ông cho ta nhiều thông tin rất đáng chú ý. Theo lời tựa nêu trên, việc “ước giải” trước hết nhằm vào đối tượng những người mới học kinh điển (trẻ nhỏ) và những người chưa thể tiếp nhận kinh điển một cách sâu sắc từ chính văn kinh (“trung nhân dĩ hạ”). Theo đó ta thấy việc tách từng câu để diễn giải trước hết là một hình thức cú đậu,[iii] khiến người ta dễ dàng hiểu được nghĩa lí từng đoạn văn bản. Thứ hai cách diễn dịch sang tiếng Việt có thể trở thành dễ hiểu hơn. Nhưng ngay ở góc độ này, chúng ta cũng không thể xem việc dịch Nôm là nhằm đại chúng hóa, muốn hiểu được văn bản, dẫu là dễ dàng đối với người mới học, nó cũng cần người học biết đọc được cả chữ Hán và chữ Nôm rồi mới có thể sử dụng văn bản diễn nghĩa (trường hợp cụ thể là Tứ thư ước giải) để tiếp thu kinh điển. Như vậy nó là dễ dàng cho người tiếp nhận kinh điển ở giai đoạn đầu, trong sự phân biệt với giai đoạn đã hiểu thật  sâu sắc (việc tiếp nhận thẳng từ văn bản chữ Hán là dành cho “trung nhân dĩ thượng” – theo cách nói của Lê Quý Đôn). Như vậy nó không phải để thay thế, mà chỉ để hỗ trợ. Việc tiếp nhận trực tiếp kinh điển từ văn bản Hán vẫn là đòi hỏi tất yếu không thể thay thế đối với những người muốn thâm nhập vào tầng thứ tư tưởng sâu xa, uyên áo của văn bản cổ Hán văn.
Theo đó việc chuyển dịch nên nhấn mạnh ở góc độ nó có liên quan tới vấn đề công cụ để tư duy. Nó vừa giúp cho người tiếp nhận ở giai đoạn còn lệ thuộc nhiều vào tư duy tiếng Việt được thuận tiện từ việc tư duy bằng tiếng mẹ đẻ, đồng thời nó cũng liên quan tới vấn đề thỏa mãn tư duy bằng tiếng Việt của cả chính người làm công việc diễn nghĩa, dịch Nôm. Quá trình diễn dịch là một quá trình chuyển công cụ tư duy, hay tư duy bằng công cụ ngôn ngữ có tính đan xen.
Không thấy các lời tựa nói tới mục tiêu chuyển dịch để dễ nhớ, dễ thuộc. Thực tế nghiên cứu văn bản cũng cho thấy, nhớ và thuộc được một bản diễn Nôm như Chu Dịch quốc âm ca là việc rất khó, nếu không muốn nói là không thể đối với người học.
Diễn Nôm hầu như không có văn bản in và trình bày độc lập, tách hẳn khỏi kinh điển chữ Hán. Không có bản diễn ca Nôm độc lập như các tiểu thuyết bằng thơ Hoa tiên[iv] hay Đoạn trường tân thanh[v], hay các diễn ca Nôm về lịch sử[vi]. Đối với tiểu thuyết, chỗ dựa để người đọc có thể dễ nhớ dễ thuộc là cốt truyện, nhân vật và tình tiết xác định. Người ta dựa theo các yếu tố đó và có thể thuộc được cả truyện thơ dài. Còn với kinh điển, các phạm trù, điển chế, tư tưởng dẫu được trình bày một cách logic, luân lí triết học và châm ngôn rõ ràng, nhưng không hề dễ thuộc dễ nhớ. Nó không có được chỗ dựa như truyện. Có lẽ đây là một lí do khiến diễn ca nôm, diễn nghĩa, giải nghĩa bằng Nôm luôn đi cùng với văn bản chữ Hán và công việc diễn nghĩa về tổng quan được xem là một loại hoạt động chú giải, giải nghĩa, sớ nghĩa bằng chữ Nôm. Nó là hoạt động chưa thoát khỏi hệ thống chú sớ, giải nghĩa kinh điển xét về cả cách thức và phương pháp. Nhìn bộ phận thì nó đã là các bản dịch, xét về công việc thì nó là dịch thuật, nhưng nhìn tổng thể thì  nó chưa hẳn là những bản dịch độc lập.
Diễn ca nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân người làm công việc nghiên cứu thảo luận và tiếp nhận kinh điển Nho gia. Trong quá trình đọc người ta thấy việc diễn Nôm khả dĩ thể hiện được mức độ hiểu kinh điển của họ, muốn diễn đạt ý hiểu đó bằng một ngôn ngữ khác. Điều này mang lại cho họ sự hứng thú học thuật. Trong quá trình tiếp nhận kinh điển bằng cổ văn Trung Quốc, có mấy tầng cách biệt, bản thân ngôn ngữ trong kinh điển đã không phải khẩu ngữ, lại không phải khẩu ngữ người Việt. Nói theo một ngôn ngữ và nghĩ bằng một ngôn ngữ khác chắc chắn có ảnh hưởng tới tư duy và một cách tự nhiên, người ta có nhu cầu chuyển đổi công cụ. Sự ra đời của chính chữ Nôm cũng xuất phát từ chính lí do này. Khi tiếng Việt đã khá phát triển, nhu cầu tư duy bằng tiếng Việt càng thúc bách các sĩ phu  chuyển dịch công cụ. Diễn Nôm kinh điển Nho gia nhìn theo góc độ này, nó lại là một hoạt động “giải độc” (解讀), hoạt động tiếp nhận hơn là dịch thuật.
Có một số văn bản kinh điển và thảo luận có nội dung Nho học do chính người Việt biên soạn, sau khi bản chữ Hán xuất hiện, người ta lại tiếp tục chuyển dịch chúng sang Nôm. Việc diễn Nôm các tác phẩm toát tiết yếu kinh điển của các nhà nho Việt Nam là những dẫn chứng sinh động.
3. Dùng thơ để diễn dịch và hệ quả của nó
Người ta dùng thơ Nôm, chủ yếu là thể thơ Nôm Lục bát để diễn dịch các nội dung của nguyên tác kinh điển Nho gia. Đây là điểm cần có sự chú ý đặc biệt. Lục bát là thể thơ Nôm xuất hiện vào khoảng cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI. Nó là một thể thơ được cấu trúc theo từng cặp, một câu 6 chữ (tính đơn vị chữ Nôm) và một câu 8 chữ, rồi lại tới một câu 6 chữ tiếp theo. Chữ cuối cùng của câu 6 hiệp vần với chữ thứ 6 của câu 8 và chữ cuối cùng của câu 8 lại hiệp vần với chữ cuối cùng của câu 6 tiếp theo.
Một bài thơ Lục bát không giới hạn bao nhiêu câu, nó có thể kéo dài bao nhiêu tùy ý người sáng tạo. Tác phẩm văn học Đoạn trường tân thanh nổi tiếng của Việt Nam được sáng tác bằng thể thơ này, nó dài trên 3000 câu thơ. Hay một tác phẩm diễn ca lịch sử khác Thiên Nam ngữ lục, bao gồm trên 8000 câu thơ.
Thể thơ Lục bát có rất nhiều ưu thế trong việc dùng để bộc lộ cảm xúc, trữ phát tình cảm giống như các thể thơ khác, đồng thời nó cũng lại hết sức thuận lợi trong việc tả cảnh, tả tình kể lại những nội dung phức tạp, trần thuật những truyện nhiều nhân vật và tình tiết. Nó lại có thể đảm nhiệm công việc tự thuật thay cho tản văn.           
Để viết được những câu thơ lục bát thật hay, nó cũng đòi hỏi trình độ nghệ thuật cao, nhưng với những người bình dân, học vấn không cao cũng có thể sáng tác những bài thơ lục bát ở một trình độ nghệ thuật chấp nhận được. Việc sáng tạo một tác phẩm văn chương bằng loại thơ này nhìn chung khá thuận lợi. Đối với người Việt Nam, thể thơ lục bát là thể thơ mang tính đại chúng cao, nhưng lại cũng rất bác học nếu chúng là sản phẩm của một nhà văn hóa có tầm cỡ.  
Người Việt Nam đã triệt để khai thác những thế mạnh về việc sáng tạo và lưu truyền, thưởng thức của thơ Lục bát để chuyển dịch và phổ biến rất nhiều văn bản chữ Hán. Các văn bản chữ Hán được chuyển dịch gồm rất nhiều lĩnh vực, triết học, văn học, y học, lí số, địa lí….[vii]
Việc diễn dịch bằng thơ tạo ra một sự thúc ép người dịch bày tỏ thái độ, cảm xúc, chính kiến nhiều hơn là việc chuyển dịch từ văn xuôi sang văn xuôi. Điều này do sức ép của chính đặc trưng thể loại. Nó nảy sinh từ sự chuyển dịch giữa hai loại văn bản có đặc trưng khác nhau: tự sự và trữ tình. Khi diễn dịch bằng thơ, người ta cũng thường bộc lộ ý khuyên nhủ, dẫn dắt và định hướng nhận thức. Diễn ca ngoài sự tác động vào tư duy lí tính, nó còn tác động vào tầng cảm tính, vào tình cảm và trực cảm. Nó cũng do đặc trưng thể loại tạo ra. Tác phẩm Chu Dịch quốc âm ca của Đặng Thái Phương biểu hiện rất sinh động đặc trưng này. Khi diễn dịch hào “Sơ cửu: Tiềm long vật dụng” của quẻ Càn, tác giả vừa trình bày nghĩa lí của quái hào, vừa định hướng nhận thức và hành động: “Sơ cửu hào nghĩa tiềm long, Mọn còn ở dưới mà dùng làm chi. Bằng Thuấn thuở còn trắc vi, Long đức nhi ẩn, đợi thì sẽ hay. Ta hãy dưỡng đức cho dày, Khi nay ở dưới có ngày lên trên.” Hoặc khi diễn dịch hào nghĩa “Thượng cửu: Cang long hữu hối” của quẻ Càn, tác giả viết: “Thượng cửu hào rằng cang long, Doanh bất khả cửu cho thông mới mầu. Chớ tham lộc vị ở lâu, Xem thời mà tốt chưng sau mới tuyền.” Hào thượng cửu quẻ Càn ý nói, mọi sự vật, sự việc đã phát triển đến giai đoạn quá cực, nếu không thông suốt về lẽ tiến thoái, tồn vong, cùng thông, đắc táng thì có ăn năn. Tác giả diễn dịch ý đó rất gọn bằng một câu “Doanh bất khả cửu cho thông mới mầu”, nhưng đồng thời lại định hướng, khuyên răn cho một đối tượng cụ thể là người có địa vị, “chớ tham lộc vị”, “xem thời” tiến lui để được tốt lành trọn vẹn. Việc định hướng nhận thức và hành động trong diễn dịch kinh điển không có nghĩa là thu hẹp nghĩa lí của kinh điển, mà thể hiện một cách hiểu, một hướng quan tâm của bản thân người diễn dịch.
Việc diễn dịch bằng thơ Nôm vừa thỏa mãn nhu cầu tư duy bằng tiếng Việt, là cách giản dị hóa, nhưng đồng thời nó cũng làm thay đổi, hướng tới một phương thức truyền bá và tiếp nhận khác cách tiếp nhận và truyền bá của người Trung Quốc. Trong con đường tìm tới sự ảnh hưởng và tiếp nhận Nho giáo tại Việt Nam, nhà nho đã nhận thấy diễn Nôm là một con đường truyền bá và tiếp nhận, tuy không chính thống như giáo dục và khoa cử bằng chữ Hán, nhưng lại có hiệu quả. Dùng thơ để “diễn dịch” đã đem lại cho văn bản mới màu sắc cảm tính, xúc động, tâm đắc của người diễn dịch so với bản gốc. Diễn nghĩa là giảng giải cho rõ nghĩa ra, nhưng cũng còn có ý là tạo điều kiện để tiếp nhận tốt hơn bằng một chiều cảm nhận khác, phương pháp tiếp nhận khác. Phương pháp khác này phù hợp với thói quen tư duy hình tượng và tiếp nhận một cách trực tiếp, trực cảm của người Việt Nam hơn. 
Nho gia đặc biệt coi trọng phương diện thực tiễn đạo đức, vì vậy, việc chuyển dịch và diễn dịch này, xét về phương diện học thuật và đặc sắc tư tưởng có phần hạn chế, nhưng xét về phương diện tác động vào sự cảm nhận mang tính tình cảm, mang tính thực tiễn đạo đức thì nó không phải không có hiệu.
Diễn ca đã tìm được cách tác động tốt nhất đối với tâm tính của người Việt. Điều đó cũng có nghĩa là Nho gia tìm được tiếng nói thích hợp nhất với tâm lí tiếp nhận và phù hợp với cách nói, cách cảm của người Việt. Nho gia tìm được chỗ đứng trong hồn Việt bằng chính phương thức này. Nó lấy khuyên nhủ nhẹ nhàng, ân cần nhưng lại có khả năng thấm sâu, gây sự lay động tâm hơn là cách tác động qua chiều lí tính. Mục đích là tìm tới một sự truyền đạt và tiếp nhận hiệu quả nhất.
Kết ngữ
Diễn Nôm, dịch Nôm các tác phẩm kinh điển Nho gia là một bộ phận trong xu hướng bản địa hóa các yếu tố văn hóa, học thuật có nguồn gốc nước ngoài nói chung (chủ yếu là Trung Quốc và Ấn Độ). Trước khi diễn Nôm kinh điển Nho gia, đã có một tiền lệ là các nhà sư hoặc các trí thức Phật học đã từng diễn Nôm nhiều tác phẩm Phật học, chẳng hạn công trình Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh được diễn Nôm vào khoảng thế kỉ XII, hay việc dịch Nôm Khóa hư lục của Trần Thái Tông giai đoạn sau. Dùng Nôm diễn dịch các tác phẩm Phật học thời Lý – Trần đánh dấu giai đoạn xuất hiện của chữ Nôm và sự khởi đầu cho nhu cầu tư duy bằng tiếng Việt, còn diễn Nôm kinh điển Nho gia từ thế kỉ XV trở về sau đánh dấu bước phát triển của văn Nôm và các thể thơ Nôm thời kì trung đại.
Các tác phẩm diễn Nôm kinh điển Nho gia thường hướng tới làm rõ các vấn đề về nghĩa lí của kinh điển. Các tác phẩm diễn ca Nôm hầu như không nhằm khảo cứu văn bản, không khảo sát những vấn đề đồng dị, vấn đề văn tự. Các tác giả cũng ít biện luận về chỗ đúng sai của kinh sách, mà chủ yếu nhằm vào nghĩa lí của kinh điển. Cấu trúc văn bản in vẫn song song Hán – Nôm; hầu như không có bản dịch nào chỉ có phần Nôm độc lập. Từ đó có thể thấy, việc dịch Nôm vẫn bị xem là thứ yếu sau văn bản chữ Hán, là phần thêm vào và chưa tồn tại độc lập. Nó như một phần diễn giảng hơn là một tác phẩm dịch độc lập.
Diễn ca vừa nhằm tác động tới số đông, nhưng trước hết nó nhằm thỏa mãn một nhu cầu, một tâm thức văn hóa của tầng lớp trí thức. Tầng lớp sĩ muốn tư duy và cảm nhận bằng ngữ ngôn ngữ thuần Việt. Người ta muốn thực hiện một quá trình công phu tu dưỡng và tiễn hành một thực tiễn đạo đức bằng lời ăn tiếng nói, cách hiểu cách cảm mang đặc sắc của Việt Nam.
Diễn ca không phải là khuynh hướng học thuật mang tính bác học. Nó có ý nghĩa và vai trò quan trọng khi văn chính luận bằng tiếng Việt chưa thực sự phát triển đủ sức đáp ứng việc diễn tả các vấn đề phức tạp và ở trình độ lí tính cao. Diễn Nôm tạo ra một con đường để các lớp từ ngữ, khái niệm của Nho giáo thâm nhập sâu vào tiếng Việt. Rất nhiều trong số đó được Việt hóa sâu sắc. 
Ngoài việc diễn Nôm kinh điển trong phạm vi Tứ thư, Ngũ kinh, người ta còn diễn Nôm cả một số tác phẩm và vấn đề khác… chẳng hạn: Nhị thập tứ trung diễn ca, Hiếu kinh lập bản diễn ca, các bản thánh huấn, gia huấn… cũng đều được diễn ca.
Việc diễn ca bằng thơ Nôm cũng có tác dụng tiêu cực là làm giảm tính chặt chẽ logic của văn bản, làm mất đi, hoặc làm thiên lệch nhiều nội hàm của các khái niệm, giảm tính chặt chẽ và logic của văn bản. Việc làm này cần được nhìn nhận là một hiện tượng văn hóa học thuật phản ánh những vấn đề chung mang tính quy luật của sự ảnh hưởng của kinh điển Nho gia ra các nước khu vực, đồng thời cũng thể hiện những vấn đề riêng khá đặc sắc của quá trình tiếp nhận kinh điển Nho gia tại Việt Nam.

Bài viết dựa trên tham luận tại hội thảo “Chữ Nôm với kinh điển Nho gia” do Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tháng 8/2011.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu Hán Nôm:
Lê Quý Đôn黎貴惇, Thư kinh diễn nghĩa書經演義, (1772), A.1251.
Đặng Thái Phương鄧太滂, Chu Dịch quốc âm ca周易國音歌, (1757), AB.29.
Tứ thư ước giải四書約解, AB.270/1-5.
Thi kinh giải âm詩經解音, (1792), AB.144/1-5.
Trung dung giảng nghĩa 中庸講義, AB.278.
Thiên Nam ngữ lục天南語錄, AB.478/1-2.
Nguyễn Huy Tự 阮輝嗣soạn, Đỗ Hạ Xuyên杜夏川kiểm hiệu, Hoa tiên nhuận chính花箋潤正, (1875), VHb.72.
Tài liệu tiếng Việt:
Khuyết danh, Thiên Nam minh giám, Hoàng Thị Ngọ phiên âm, chú giải, giới thiệu, (Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học, 1994).
Lạc Nam, Tìm hiểu các thể thơ (Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học, 1993).
Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, Thơ ca Việt Nam: hình thức và thể loại (TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh, 1999).
Trần Đình Sử, Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử (Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục, 2003).



[i] PGS.TS. PGĐ Đại học Quốc gia Hà Nội, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
[ii] Dẫn theo bản dịch của Nguyễn Tuấn Cường, trong bài viết “Nghiên cứu Tứ thư ước giải (Lược tả văn bản và giải đọc bài Tựa của Lê Quý Đôn)”.
[iii] : ngắt câu; đậu: ngắt ngữ đoạn.
[iv] Hoa tiên: tác phẩm truyện thơ Nôm của Nguyễn Huy Tự, sáng tác trên cơ sở vay mượn cốt truyện  từ ca bản Đệ bát tài tử hoa tiên kí của Trung Quốc.
[v] Đoạn trường tân thanh: tác phẩm truyện thơ Nôm của Nguyễn Du, còn gọi là Truyện Kiều.
[vi] Chẳng hạn các tác phẩm: Thiên Nam ngữ lục, Thiên Nam minh giám, Đại Nam quốc sử diễn ca....
[vii] Trong kho sách Hán Nôm, chúng ta thấy có rất nhiều tác phẩm dùng thơ lục bát để diễn ca các tác phẩm y học, tử vi, độn số, phong thủy....

Sunday, May 08, 2011

NHO GIÁO VÀ TÂM THÁI LẬP QUỐC TRIỀU LÝ*

Nguyễn Kim Sơn

Triều Lý (1009 - 1225) không phải là triều đại đầu tiên của nước Đại Việt độc lập, nhưng triều Lý lại có vị trí hết sức quan trọng đối với cả chặng đường dài về sau của thời kỳ trung đại. Nhiều truyền thống lớn của dân tộc được kiến tạo và khơi nguồn ở thời đoạn này. Triều Lý cũng là triều đại hưng nghiệp với tâm thái lập quốc, tâm thái kiến tạo. Ở thời điểm đó, Nho giáo đã có những bước đi đầu tiên cách ly một cách tương đối khỏi mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên với Nho giáo Trung Quốc. Bước đi đó đầy ý nghĩa quyết định và thẳng về một ngả ba đường xác định, ngả đường tiến vào đời sống chính trị và dần ảnh hưởng ngày càng sâu rộng đến đời sống văn hóa, phong tục, tập quán, đạo đức, lối sống của người Việt. Nho giáo đã trải qua những trang sử đầu tiên của mình trên đất nước Đại Việt độc lập trong tâm thái lập quốc của triều Lý.

1.  Thắng lợi của xu thế cai trị mới

Cần thiết phải điểm lại những động thái chính trị trọng yếu của các đời vua thời kỳ giành độc lập Ngô-Đinh-Tiền Lê. Có nét chung phổ quát dễ nhận ra là, ba triều đại ngắn ngủi này đều quyết chí giành độc lập. Những vị sáng nghiệp đều là những người vũ dũng, bằng thanh gươm yên ngựa chống thù ngoài dẹp loạn trong. Đây là thời kỳ các ông vua mới với vóc dáng của thủ lĩnh xuất sắc tự trị trên mảnh đất của mình, chống lại các nguy cơ xâm lược đến từ phương Bắc. Những ông vua Đinh-Lê cai trị một cách khá “tùy hứng”, chưa thấy họ có vóc dáng của một vị Hoàng đế một triều đình với điển chế hoàn bị, tức vóc dáng của chế độ phong kiến chuyên chế mới bắt đầu trên chặng đường hình thành dài lâu quanh co. Sự thiếu vắng các hoạt động kiến tạo và hành động với tư cách các thủ lĩnh là nét nổi bật của các vua Đinh-Lê. Không những thế, sử còn mô tả những ông vua thời này còn hết sức tàn khốc, tùy tiện trong hình luật, chưa biết “giáo hóa dân” và cai trị bằng “Lễ nhạc”. Ngọa Triều - ông vua cuối cùng Tiền Lê còn bị coi là kẻ tàn ác, vô  nhân tính, bạo ngược như Kiệt-Trụ. Tóm lại, hơn một nửa thế kỷ sau khi giành được độc lập, các triều vua nối tiếp nhau chỉ thấy nổi bật ở ý chí độc lập mà còn luẩn quẩn ở con đường phát triển, mọi việc kiến tạo còn ở phía trước. Sứ mệnh lịch sử giành được độc lập của các triều Ngô-Đinh-Lê coi như đã hoàn thành. Nhưng độc lập đã giành được cần phải đơm hoa kết trái, dân tộc còn cần phải tiếp tục tự lực tự cường và bước ngay vào thời kỳ trưởng thành, trưởng thành để đủ sức đối đầu với những thử thách lớn tiếp sau. Vấn đề lớn nhất đặt ra với triều đại cai trị Đại Việt cuối thế kỷ X đầu thế kỷ XI là nhanh chóng đưa đất nước vào thời kỳ kiến tạo, thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến. Phát triển là đòi hỏi của thời đại. Lực lượng tiên tiến nhất lúc bấy giờ phải là lực lượng đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử, đưa đất nước trở thành quốc gia Đại Việt hùng mạnh.

Như trên đã nói, Lê Ngọa Triều bị sử gia các thời mô tả như Kiệt-Trụ[1] điều đó có ý nghĩa là người thay Ngọa  Triều có thể như Thang-Võ. Lý Công Uẩn giành lấy ngai vàng trong hoàn cảnh lòng người đã chán ngán, oán hờn chính sự hà khắc, hôn quân vô đạo. Những gì mà chính sử, dã sử đã ghi chép được cho biết Lý Công Uẩn lên ngôi tuy không gây đổ máu như những lần thay đổi triều đại về sau, nhưng cũng không phải là chuyện dễ dàng. Đó là cả một quá trình vận động và chuẩn bị. Có hẳn một thế lực đứng sau Lý Công Uẩn. Vị Quốc sư người Cổ Pháp đồng hương và là người đỡ đầu cho Lý Công Uẩn hành động, suy nghĩ tính toán có dáng dấp của một nhà Nho quyền trí hơn là một Thiền gia. Ngoại trừ mối quan hệ còn đôi chỗ chưa thực sáng tỏ giữa Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn, điều ta cần quan tâm là vị Quốc sư này hy vọng điều gì khi vận động đưa Công Uẩn lên ngai vàng. Lý Công Uẩn được chọn, đưa vào triều, nắm cấm quân (có thực lực) và hành động chiếm ngôi. Đó là một quá trình có tính toán kỹ lưỡng. Điều mà Vạn Hạnh hy vọng ở Công Uẩn có thể nhận ra trong vài ba tài liệu hiếm hoi, đó là lời nhận xét về tư chất Công Uẩn thủa nhỏ tuổi[2] và bài Khuyến Lý Công Uẩn lên ngôi. Ngoại trừ khả năng câu chữ trong lời Vạn Hạnh là của hậu Nho gán ghép cho hợp, có thể thấy những kẻ “thức giả” thời đó đã nhận thấy cần phải thay đổi cục diện. Vạn Hạnh thấy ở Lý Công Uẩn những tư chất và điều kiện để có thể trở thành vị Hoàng đế cai trị thiên hạ theo lối khác các vua đương thời. (Sự mường tượng về ông Hoàng đế đó là mường tượng theo tiêu chuẩn của Nho gia). Việc Lý Công Uẩn giành ngôi được coi như công cuộc dấy nghiệp của thánh vương. Cả Vạn Hạnh và những người ủng hộ Lý Công Uẩn (tiêu biểu nhất là Đào Cam Mộc) ca ngợi Công Uẩn là ngưòi có đức, nói tới việc Công Uẩn lên ngôi gắn liền với thiên mệnh, tới ân đức ban ra thiên hạ, điềm rồng xuất hiện như điềm trời sinh thánh nhân. Công Uẩn lên ngôi đại xá thiên hạ, đốt bỏ hình cụ, và đặt niên hiệu là Thuận Thiên (tuân theo mệnh trời). Đó chính là không khí “cách mạng” kiểu Thang-Võ. Các nhà Nho Trung Quốc đã từng tô vẽ cho nó và coi đó là Cuộc đổi vạc chính đính vì lợi ích của quốc gia và dân chúng. Nhà Lý dấy nghiệp thực sự đã có tinh thần đó. Trong thực tế, lần đầu tiên ông vua dấy nghiệp phải tìm kiếm chỗ dựa tư tưởng. Tư tưởng được chọn làm chỗ dựa đó, không gì khác chính là Nho giáo. Sự mường tượng về chính sự đã khác. Từ tiểu sử bản thân Lý Công Uẩn[3], Vạn Hạnh và những người ủng hộ, từ hàng loạt những công việc mà Lý Công Uẩn làm sau khi lên ngôi, ta thấy Lý Công Uẩn lên ngôi, kiến quốc là đáp ứng được những đòi hỏi của lịch sử lúc đó. Việc nhà Lý thay Tiền Lê là sự thắng thế của một lực lượng văn hóa cao hơn, là sự thắng thế của một cung cách cai trị mới kiểu phong kiến, nó là vận động tất yếu của lịch sử. Việc Vạn Hạnh và Công Uẩn sinh ra ở vùng Cổ Pháp, một nơi có văn hóa phát triển cao bậc nhất Đại Việt lúc đó, nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc từ phương Bắc xuống chắc chắn có mối quan hệ mật thiết tới phán đoán nói trên. Những gì mà nhà Lý làm ngay sau khi nắm giữ ngai vàng là minh chứng hùng hồn và sinh động. Một thời kỳ kiến tạo mới đầy trí tuệ, xa viễn và bản lĩnh. Những ngả đường vận động bắt đầu lớn của tư tưởng bắt đầu.

2. Tâm thái lập quốc

Triều Lý nắm quyền trị nước trong tâm thế kiến tạo, mọi việc còn đều ở phía trước. Từ tư tưởng cho đến công việc thực tế mà các vua Lý đã làm đều là những công việc sáng nghiệp. Triều Lý đã lập quy mô của Đại Việt về nhiều phương diện; từ chủ quyền lãnh thổ, mô hình chính trị, ngôi vua (kiến cực), định đô, định điểm chế hiến chương, các quan hệ đối ngoại với lân bang và đặc biệt là chọn lựa hệ tư tưởng chỉ đạo. Một thể chế phong kiến đến đây mới thực sự được kiến lập. Những công việc kiến tạo của nhà Lý đã xác lập được vị trí của Đại Việt trong khu vực. Nó đã đáp ứng được đòi hỏi phát triển của dân tộc thời kỳ đó. Trong thực tế Đại Việt đã được làm mạnh hóa rất nhiều do công của triều Lý. Công cuộc mở rộng lãnh thổ và tăng cường sự kiểm soát đối với các vungf đất thượng du được nhà Lý đặc biệt quan tâm. Nhiều đời vua Lý đã đích thân làm tướng đánh dẹp trừng phạt “man dân” không phục tùng và quy phục nhiều kẻ khác. Mở rộng và tăng cường quyền kiểm soát về lãnh thổ, có viễn kế lâu dài, ở thời trung đại đó là những dấu hiệu cường thịnh của các đế chế. Việc định đô, chuyển đô từ Hoa Lư về Thăng Long được nhìn nhận là việc quan trọng của hệ thống các công việc kiến quốc. Việc chuyển từ nơi thủ hiểm ở Hoa Lư ra nơi “trung tâm của trời đất” Thăng Long vừa là dấu hiệu của sự trưởng thành của dân tộc, vừa cho thấy bản lĩnh lựa chọn và tầm nhìn xa của triều Lý hơn hẳn các triều trước. Thăng Long mới thực sự là kinh đô của các bậc đế vương cả về vị trí và quy mô[4]. Tuy nhiên sự kiến lập trên phương diện chính trị, tư tưởng mới có ý nghĩa quyết định hướng dẫn tới sự thay đổi về chất của xã hội Đại Việt. Một ông Hoàng đế phong kiến với đầy đủ các phương diện của nó được đưa ra thay thế cho hình mẫu thủ lĩnh xuất sắc thời giành độc lập. Chính trị cung đình với thể chế quan liêu hoạt động theo điển chế được xác lập, phẩm phục, lễ nghi cũng bắt đầu được chế định. So với nhiều triều đại về sau thì thể chế phong kiến nhà Lý chưa chặt chẽ bằng. Điều mà các nhà Nho về sau gọi là “khoan giải” không gì khác chính là tình trạng thô sơ và lỏng lẻo, nhưng đó là những nền tảng đầu tiên của một thời kỳ phát triển mới. Sự trưởng thành của thể chế Đại Việt là yếu tố hết sức quan trọng đối với việc khẳng định, bảo vệ độc lập dân tộc, đoàn kết cộng đồng dân chúng, chống trả lại những làn sóng xâm lược dữ dội từ phương Bắc ở thời kỳ tiếp theo.

3. Chọn lựa tư tưởng

Nhà Lý lên ngôi nhờ thế lực Phật giáo. Đó cũng là thời kỳ toàn thể dân chúng Đại Việt theo Phật giáo một cách “hồn nhiên”. Phật giáo chiếm lĩnh mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thế nhưng, Phật giáo lại không thể cung cấp cho các ông vua những điều cần thiết, những bài học để bảo vệ ngai vàng, xây dựng đất nước, kiến lập  triều đại, trị quốc an dân. Trong khi đó Nho gia lại có mọi thứ cần thiết. Nho gia về thực chất là học thuyết giành cho người trị quốc. Kinh-truyện Nho gia phong phú cả lý luận lẫn những bài học thực tế được đúc rút. Nó đề cao ngôi vua và mô hình chuyên chế. Chính sự từ Tam Hoàng-Ngũ Đế đến Hán-Đường đủ cho người lập triều đại, kiến hoàng cực tham khảo, học tập. Trong bối cảnh lập quốc triều Lý, Nho giáo thỏa mãn các nhu cầu mà ông vua xây nền đắp móng chế độ phong kiến cần có. Ở thời điểm đầu thế kỷ XI, vua Lý không thể chọn lựa một hệ thống tư tưởng nào khác tốt hơn cho sự lựa chọn Nho giáo làm thực chất cho đời sống chính trị. Vì lợi ích dân tộc, vì sự phát triển của dân tộc mà Nho giáo đã được lựa chọn. Sự lựa chọn này đã có hiệu quả làm thể chế phong kiến mạnh hơn.

Cũng cần phải nhắc lại rằng ở thời điểm thế kỷ XI, Nho giáo không còn là tri thức mới mẻ đối với người Việt, nó không phải là cái lần đầu phát hiện thấy ở Trung Hoa rồi học về, nó đã là một thứ tri thức, một loại văn hóa đã có ảnh hưởng nhất định ở Giao Châu suốt gần mười thế kỷ Bắc thuộc với những mức độ đậm nhạt khác nhau ở từng nơi, từng lúc. Nhưng nghìn năm Bắc thuộc Nho giáo mờ nhạt bên cạnh Phật-Đạo. Lý do chính là vì chưa có môi trường chính trị cung đình cần thiết cho nó, chưa có một chính thể để dùng nó, cái môi trường chính trị, nhu cầu phát triển thể chế đã xuất hiện ngay sau khi giành độc lập. Nhu cầu phát triển triều đình phong kiến đời Lý đã tạo ra cơ hội lớn, một cửa mở cho Nho giáo. Chính trị triều Lý bắt đầu nhuốm màu Nho gia. Phân tích các công việc kiến tạo triều đại, kiến quốc của nhà Lý ta thấy đó phần lớn là do tư tưởng Nho gia mách bảo. Bản Thiên đô chiếu của Lý Công Uẩn, lời Khuyến Lý Công Uẩn lên ngôi của Vạn Hạnh đều là sự mường tượng xa viễn cơ nghiệp đế vương theo tinh thần Nho gia. Các vua Lý từ Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông… đều tiếp nối tinh thần kiến tạo theo những bài học trị quốc an dân của Nho gia. Các vua vẫn thờ Phật, sùng Phật[5], nhưng lại đồng thời cho xây dựng Văn miếu thờ Khổng Tử và các Tiên hiền (1070), lập Quốc Tử Giám, thi Minh kinh bác sĩ, lập Thái miếu để thờ tổ tiên, xây đàn tế trời đất… Các sự kiện trên một thái độ rõ ràng đối với Nho giáo, và của Nho giáo và Nho học. Các sự kiện này chưa tạo ra ngay một định hướng, một sự khẳng định địa vị cần và đáng có của Nho giáo trên đất Đại Việt. Việc các Thái tử đến học tập ở Quốc Tử viện cho thấy, những người làm chính trị đương thời nhận thức được Nho học là tri thức cần thiết cho một ông vua trị nước trong tương lai. Dẫu cho trong bản thân các ông vua chưa có một con người sống và tư duy hoàn toàn theo Nho, tu kỷ hành đạo theo Nho. Quốc Tử viện chưa đông đúc người giảng người học, chưa dành cho con em bình dân, trường công chưa mở từ trung ương đến địa phương, khoa cử rời rạc, “tùy hứng” chưa định chế, nhưng có khoa cử, có văn miếu, có Quốc tử viện, đối với Nho sĩ có nghĩa rằng: Nho cũng là cái rất cần cho xã hội. Người thời đó thấy rằng học Nho cũng có thể tiến thân và có vinh hiển như làm võ tướng và tăng đạo. Sự kiện này cùng việc dùng chữ Hán làm chữ viết chính thức và phổ biến ở Việt Nam là một tổng thể hữu cơ. Phải thấy rằng nhà Lý lập Văn miếu, mở khoa thi, chính thức hóa địa vị của Nho trong bối cảnh chuẩn bị đánh lớn chống quân xâm lược nhà Tống mới thấy đây là sự lựa chọn đầy bản lĩnh. Chống Tống xâm lược là một chuyện và chọn Nho có gốc phương Bắc lại là một chuyện. Cho nên các nhà Nho về sau luôn cho rằng, Nam Bắc núi sông bờ cõi, phong tục thì phân chia còn “Đạo không chia khác” là sự tiếp nối nhận thức đó. Tiếp nhận Nho không phải là do đầu óc nô lệ mà là chọn lựa tự giác có tính toán, vì độc lập tự cường dân tộc, vì những nhu cầu biến tạo mà lựa chọn. Với những chất liệu mà Nho giáo cung cấp, người Việt thời Lý đã dựng lên mô hình chính trị theo kiểu Nho gia nhưng đối lập với mô hình chính trị Nho gia. Từ vị thần nhân cách tối cao vô thượng – Thiên; Thiên đế đến Thiên mệnh, thiên hạ, đến Thiên tử trị dân bằng giáo hóa, đều hiện diện để khẳng định cho độc lập dân tộc. Nho gia cũng trởt thành một thứ vũ khí tư tưởng để khẳng định quyền tồn tại độc lập của Đại Việt, tuyên bố quyền chinh thảo điếu phạt của vương sư trong các nội chiến. Đó là sản phẩm của mô hình chính trị học tập theo kiểu thể chế Trung Hoa do Nho gia cung cấp.

Về phương diện đối nội, sau loạn Tam vương nhà Lý phải chú mục vào những nguy cơ đe dọa ngai vàng. Bài học các triều Ngô-Đinh-Tiền Lê chưa xa, loạn Tam vương là lời nhắc nhở về đường lối cai trị. Các ông vua buộc phải nghĩ đến việc củng cố vững chắc của ngai vàng bằng con đường ước thúc nhân tâm. Tư tưởng khuyến thiện trừ ác, luân hồi quả báo của Phật giáo chưa đủ sức ràng buộc lòng người, không ngăn được bạo loạn, cần có thêm sự ước thúc nhân tâm theo kiểu Nho gia. Một nghi lễ mới mẻ được tiến hành, đó là hội thề đầu năm ở đàn Đồng Cổ. Nhà Lý coi hội thề là quốc lễ hàng năm. Các tài liệu chính dã sử đều thống nhất ghi lại nội dung lời thề: “Làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, thần minh giết chết”, đi kèm là nghi thức bôi máu lên mép. Nội dung lời thề không có gì khác, chính là hai phạm trù Trung hiếu tối quan trọng của Nho gia. Thần Đồng Cổ, vị thần bản địa trở thành vị thần hộ trì cho quân vương và giám sát luân lý; chính trị và đạo đức; thân quyền và vương quyền đã kết hợp lại làm một với mục đích duy nhất-bảo vệ vương quyền. Tuy nhiên cung cách hội thề và lời thề như vậy có khác với những nguyên tắc của Nho gia nói chung. Nho gia không chấp nhận vị thần giám sát luân lý kiểu như vậy. Nó không phải là sự ước thúc mang tính nội tỉnh tự tu tự giám của Nho gia. Hội thề là một sự kết hợp của luân lý trên mảnh đất Đại Việt độc lập.

3. Nho giáo trong tương quan với Phật - Đạo

Đối với triều Lý, Nho giáo là thứ tri thức cần thiết mà chính trị cần đến. Nó tồn tại ở thượng tầng tư tưởng mà chưa có các yếu tố hạ tầng phù hợp tương ứng với nó. Mô hình chính trị vay mượn từ phương Bắc bao trùm lên cơ địa còn mang đậm yếu tố Đông Nam Á với ảnh hưởng mạnh của Phật giáo. Ở thời kỳ này, nếu ai đó đi tìm dấu ấn ảnh hưởng của Nho tới phong tục tập quán đời Lý sẽ chỉ thấy sự vắng bóng ảnh hưởng của Nho giáo. Tuy nhiên do nắm vững được đời sống chính trị, Nho giáo dần ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống văn hóa xã hội, quá trình “tông pháp hóa” xã hội Đại Việt sẽ diễn ra dần từng bước. Tuy nhiên đồng thời với việc văn hóa bản địa thay đổi do ảnh hưởng của Nho giáo, bản thân Nho giáo cũng có nhiều sự biến thiên cho phù hợp với các tầng văn hóa bản địa. Khi Nho giáo có những ảnh hưởng mạnh bước đầu ở đời Lý, quá trình chuyển biến của cả Nho giáo và văn hóa bản địa cũng thực sự bắt đầu.

Nho giáo đi vào đời sống chính trị khi trong xã hội còn chưa có tầng lớp sĩ đông đảo bảo lưu nuôi dưỡng nó, nó còn chưa có hệ thống giáo dục và khoa cử được tổ chức rộng khắp nghiêm mật từ trung ương đến địa phương truyền bá và nuôi dưỡng nó. Có thể nói Nho giáo thời Lý là thứ Nho giáo có phần tách rời hoạt động của Nho sĩ. Số ít Nho sĩ thời kỳ này trong tư tưởng của họ cũng chỉ có thứ Nho giáo trong cơ cấu hỗn hợp Tam giáo mà thôi.

Việc truyền bá, bảo lưu Nho giáo thời kỳ đó do nhà chùa đảm nhiệm một phần quan trọng. Với tư cách là những trung tâm văn hóa, nhà chùa ngoài in kinh, thuyết pháp còn dạy chữ Hán, dạy cả tri thức Nho học. “Thiền Uyển tập anh” cho biết, hầu hết các quốc sư đời Lý thủa nhỏ đều học Nho. Lý Công Uẩn lớn lên trong nhà chùa mà đọc hết kinh sử… Nhà chùa thời đó coi Nho giáo như một tri thức mở rộng và cần thiết. Việc nhiều vị Quốc sư tham chính cũng là một sự kích thích Nho học được truyền giảng trong chùa. Tăng lữ là người tu theo đạo từ bi hỷ xả của nhà Phật, nhưng vì việc tòng chính cho nên họ, một cách không tự giác, phải hướng sang tìm kiếm tri thức nơi miền đất Nho học. Đây là một trong những nhân tố làm cho Phật giáo thời Lý và cả Trần tiếp theo đi sâu vào tư tưởng giáo lý vừa nhập thế và có chịu ảnh hưởng rõ nét của Nho giáo. Nho học trong môi trường nhà chùa đã khiến cho ta thấy Nho giáo thời kỳ này không thể là thứ Nho giáo đầy đủ diện mạo toàn thể và hệ thống của nó. Việc lập ra Quốc Tử giám còn là sự khởi đầu cho cả quá trình tách việc đào tạo Nho học ra khỏi môi trường nhà chùa.

Một đặc điểm nữa dễ nhận ra là, thời Lý, Nho giáo chỉ được tiếp nhận từng mảng, từng bộ phận mà chưa được tiếp nhận toàn thể. Triều Lý chỉ tiếp nhận những gì cần thiết cho chính trị mà chưa có điều kiện và chưa thể tiếp nhận cả hệ thống. Nho giáo Việt Nam là sự tiếp nhận mang tính giản lược Nho giáo Trung Quốc, và triều Lý lại còn ở giai đoạn giản lược hơn cả. Vì tiếp nhận Nho giáo trong tâm thế lập quốc, kiến tạo nên nhà Lý hướng sự chú ý nhiều hơn đến Nho giáo Khổng Mạnh Tiên Tần với lý tưởng thống nhất, thân dân, bình trị. Cái học nội Thánh ngoại Vương tích cực có tác dụng làm mạnh chính sự cung đình. Trong việc tạo khối đoàn kết dân tộc, Nho gia có góp phần đáng kể.

Thời Lý, Nho giáo chưa được tôn sùng, nó chưa chi phối được hầu khắp lĩnh vực của đời sống xã hội. Nho giáo triều Lý phải được nhìn nhận trong tương quan Tam giáo. Để có thời độc tôn Nho thuật vài ba thế kỷ sau, không thể thiếu những bước khẳng định đầu tiên ở triều Lý. Nho giáo triều Lý đã tồn tại như một tri thức cần thiết hơn là một học thuyết hay tôn giáo. Những chuyển biến của Nho giáo ở các thời kỳ tiếp sau là sự bổ sung từng phần của cả hệ thống Nho giáo, là quá trình cả Nho giáo Trung Quốc và xã hội Việt Nam đều cùng chuyển biến để tương thích với nhau.

5. Đôi lời khép mở

Cho tới tận thế kỷ XIX, thời của các vua Nguyễn chuyên chế trị vì, quá trình Nho giáo hóa Đại Việt và Việt hóa Nho chưa phải là đã chấm dứt và hoàn thành. Nói như vậy để thấy, gần 1000 năm về trước, lễ nhạc của Nho gia còn rất “hoang sơ” trên mảnh đất này.
Nhưng ở thời điểm triều Lý dấy nghiệp, Nho giáo đã dần khẳng định được vị thế của mình. Nhà Lý chọn Nho giáo, dùng Nho giáo phục vụ việc trị quốc là một phần tất yếu, phần có quan hệ hữu cơ với tổng thể các hoạt động kiến tạo. Vì mục tiêu kiến tạo mà nhà Lý phải lựa chọn Nho giáo, Nho giáo đã mách bảo cho quá trình kiến tạo.
Từ việc triều Lý tiếp nhận Nho giáo mà suy xét liên tưởng tới toàn bộ quá trình vận động của Nho giáo các thời đoạn sau, có thể thấy sự tồn tại và biến thiên của Nho giáo ở Việt Nam gắn liền với vấn đề dân tộc, chính vì nhu cầu phát triển quốc gia dân tộc, xây dựng triều đại mà Nho giáo đã được tiếp nhận. Cha ông chúng ta dùng Nho giáo vào quá trình khẳng định dân tộc, xây dựng thể chế, xây dựng điển chương chế độ… Tách rời vấn đề dân tộc e sẽ khó có thể hiểu đúng được những đặc điểm của Việt Nho. Càng thấy điều này rõ hơn, khi quan sát thời điểm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nho giáo đã bị chối bỏ một cách tự nhiên, ít gây ra những “cú sốc” đối với tầng lớp sĩ phu và dân chúng, phần vì áp lực mạnh của Tây hóa, phần vì tất cả đều nhận thức được rằng lợi ích của dân tộc- thứ lợi ích luôn trên hết, đòi hỏi phải như vậy.

* Đây là một bài viết cũ. Bài in lần đầu trong Kỉ yếu Hội thảo Khoa học Lí Công Uẩn và vương triều Lí (kỉ niệm 990 năm Thăng Long-Hà Nội), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2001. In lại trong cuốnVương Triều Lý (Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), NXB Hà Nội, 2010).



[1] Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ bình về những hành động cai trị tàn ác bạo ngược của Ngọa Triều: “Những việc Long Đĩnh làm như tiện mía ở đầu sư, buộc cỏ vào lưng tù đốt, làm chuồng dưới nước, giồng cây nung đỏ bắt leo, những hình phạt ấy mặc dù ác như Kiệt Trụ cũng không quá đến thế; đến như oán cha, đánh tù bắt gọi tên cha ra mà làm trò vui thì lại cùng với Đông Hôn và Thiền Nguyên, cùng là loài cầm thú ác độc vậy”. (Việt sử tiêu án-Ty Văn hóa Á châu, SG, 1960, tr.109). Có thể thấy được chính sự Tiền Lê còn mang tính chất dã man khác xa với chính sự đời Lý về sau.
[2] Theo Việt sử lược, Vạn Hạnh có nhận xét về Lý Công Uẩn khi ông ta còn nhỏ tuổi: “Đây là người phi thường, sau này đến lúc cường tráng tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ” (Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường (dịch), NXB TP HCM, 1993. tr.110).
[3]  “Vua khảng khái, có chí lớn, không màng của cải, thích xem hết kinh sử” (Theo Việt sử lược, Sđd, tr.110)
[4] Việt sử lược có ghi chép về quy mô Thăng Long buổi đầu mới xây dựng: “Trong kinh đô Thăng Long dựng điện Triều Nguyên, bên tả đặt viện Tập Hiền, bên hữu đặt viện Giảng Võ. Bên tả mở cửa Phi Long, bên hữu mở cửa Đan Phượng. Nơi giữa ở phía Nam mở điện Cao Minh, thềm điện gọi là Long Trì có nhà Cầu Võng che quanh thềm. Bốn mặt điện Càn Nguyên. Sau đó dựng hai điện Long An và Long Thụy. Bên hữu xây điện Nhật Quang. Bên tả xây điện Nguyệt Minh. Phía sau có cung Thúy Hoa. Bốn mặt thành mở bốn cửa…” (Việt sử lược, Sđd, tr.117)
[5] Triều Lý có cả thảy 4 lần gửi sứ đoàn sang Tống xin kinh Phật và cả 4 lần đều được chuẩn ứng.

Sunday, March 13, 2011

NHO GIÁO TRONG TƯƠNG LAI VĂN HÓA VIỆT NAM

Nguyễn Kim Sơn

Việt Nam là một quốc gia thuộc vùng chịu ảnh hưởng của Nho giáo (Nho giáo văn hoá khuyên). Nho giáo đã từng ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc tới xã hội Việt Nam thời kỳ trung cận đại. Trải qua những chuyển biến xã hội, văn hoá thế kỷ 20, Nho giáo đã mất địa vị độc tôn, chính thống và luân lạc trong dân gian như nhiều quốc gia khác trong khu vực Ðông Á. Vấn đề đặt ra là, qua những biến động của thế kỷ 20, Nho giáo có còn tồn tại hay không? Nó ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, tư tưởng của thế kỷ 21 như hệ thống thế nào? Người ta có thể đoán định về vận mệnh của nó trong tương lai hay không? Thái độ khoa học cần phải có đối với Nho giáo trong tương lai như thế nào? Bài viết đặt mục tiêu góp phần giải đáp những vấn đề đó. Tuy nhiên, đoán định về ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam thế kỷ 21 là công việc lớn, phức tạp và luôn là quá sức đối với bất kỳ một cá nhân nào. Bài viết này bày tỏ một vài ý kiến còn ở mức độ nông cạn, bước đầu thậm chí còn ở mức cảm tính về vấn đề nan giải nhưng cấp bách đang đặt ra.

Các quan điểm của người viết được trình bày dựa trên cơ sở những nhận thức, đánh giá về những đặc điểm cơ bản của Nho giáo Việt Nam thời kỳ trung cận đại, cùng những điểm chung, điểm khác biệt quan trọng của nó so với Nho giáo các nước khu vực. Những đặc điểm của Nho giáo truyền thống Việt Nam là nhân tố nội tại của Nho học quy định những ngả đường vận động của nó trong thời kỳ hiện đại.

Bài viết cũng coi bước chuyển biến sâu sắc, toàn diện của xã hội Việt Nam thế kỷ 20, sự đứt đoạn và tiếp nối, quá trình chuyển hoá hiện đại các yếu tố của nền văn hoá Việt Nam là đối tượng được đặc biệt chú ý trong quá trình phân tích và lấy đó làm cơ sở để đoán định tương lai của Nho giáo tại Việt Nam.

Giống như mọi hiện tượng văn hoá khác, Nho giáo chịu sự quy định của thực tại. Người viết cân nhắc những điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị của Việt Nam cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, chính sách văn hoá, xã hội của Ðảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam cùng nhiều nhân tố khác nhau của xã hội Việt Nam để suy đoán về ảnh hưởng Nho giáo trong tương lai.

Nho giáo đã và đang tiếp tục có những ảnh hưởng mới ở khu vực Ðông á - Ðông Nam Á và trên thế giới. Các học giả Trung Quốc Ðại lục, học giả Âu - Mỹ và đặc biệt là các vị Tân Nho gia Cảng - Ðài đã có những thành tựu quan trọng trong nghiên cứu Nho học truyền thống cũng như quá trình chuyển hoá sáng tạo Nho học truyền thống. Người viết không thể không tính tới những khả năng ảnh hưởng mới của Nho giáo khu vực đối với Việt Nam, cũng có nghĩa là phải đặt Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ 21 trong bối cảnh Nho giáo Châu Á thế kỷ 21 nói chung để nhìn nhận.

Ngoài những cơ sở có tính chất nguyên lý chung phổ quát của sự phát triển văn hoá như vừa nêu trên, người viết cũng lưu tâm thích đáng tới nhân tố có tính năng động, chủ quan, không kém phần hệ trọng đối với việc quyết định đường hướng, diện mạo tương lai Nho giáo - đó là nhận thức, thái độ hiểu biết và tình cảm của tầng lớp trí thức.

Dù nghiên cứu Nho học truyền thống hay nghiên cứu khả năng tái sinh của nó trong tương lai, người viết luôn quán xuyến quan điểm khẳng định sự tồn tại của Việt Nho - một thực thể văn hoá, tư tưởng độc lập và sống động so với Nho giáo ở các quốc gia Ðông Á. Nó không phải là một tử vật được trưng bày trong bảo tàng, cũng không phải một phiên bản có tính rút gọn giản đơn của Nho giáo Trung Quốc. Nghiên cứu Nho giáo Việt Nam quá khứ - hiện tại - tương lai đều phải lấy Việt Nam làm bản vị chứ không phải lấy Trung Quốc làm bản vị. So sánh tìm dị biệt là cần thiết nhưng chúng tôi cũng nhận thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhận đồng, khẳng định những điểm chung quan trọng giữa Nho giáo Việt Nam và Nho giáo các nước khu vực. Tương lai của Nho giáo ở Việt Nam cũng là một bộ phận của Nho giáo Châu Á trong tương lai. Trên cơ sở một số nguyên tắc và cơ sở nhận thức như vạy chúng tôi trình bầy sự đoán định của mình về tương lai của Nho giáo Việt Nam thế kỷ 21.


1. Sự giải thể và chuyển hoá của Nho giáo thế kỷ 20

Thế kỷ 20 là thế kỷ biến động sâu sắc và toàn diện. Người ta nhìn nhận sự biến động lớn đó là đứt gẫy, là sự gián cách văn hoá giữa truyền thống và hiện đại. Nhưng nếu coi những biến chuyển của Nho giáo thế kỷ 20 là đứt gẫy là gián cách thì điều đó cũng có nghĩa nó không mất đi mà vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng ở một trạng thái mới. Chúng tôi cho rằng đã có hai quá trình cùng diễn ra, quá trình giải thể và quá trình chuyển hoá, giải thể để đi tới chuyển hoá, là sự kết thúc của Nho giáo thời kỳ chuyên chế phong kiến và bắt đầu của Nho giáo thời kỳ cộng hoà, tự do và dân chủ.

Quá trình giải thể của Nho giáo thế kỷ 20 đã diễn ra một cách toàn diện, ở cả phương diện chính thống, học thống và đạo thống. Nó diễn ra mạnh mẽ khi chế độ giáo dục khoa cử nho học bị xoá bỏ vào năm 1919 (học thống), được hoàn tất khi cách mạng dân tộc dân chủ năm 1945 toàn thắng bởi sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, xoá bỏ chế độ thực dân nửa phong kiến (đạo thống và chính thống).

Quá trình giải thể tiếp diễn ở chiều sâu trong quá trình Việt Nam xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa và tiếp tục phê phán Nho giáo với tư cách là hệ tư tưởng vào các thập kỷ 60, 70 của thế kỷ 20. Quá trình phê phán nói trên tuy không sâu sắc ở góc độ học thuật, nó thiên về chính trị, (người ta đồng nhất Nho giáo với tư tưởng phong kiến cổ hủ, lạc hậu) nhưng nó cũng tạo ra trong xã hội một xu hướng bài Nho giáo, chối bỏ Nho giáo một cách rộng khắp. Ðã có một quá trình giải thể của Nho giáo trên phương diện tư tưởng mặc dù nó đã không tập trung thành trào lưu phản truyền thống mạnh mẽ như đã từng diễn ra ở Trung Quốc thế kỷ 20.

Như đã nói ở trên, quá trình giải thể đã đồng thời gây ra một quá trình chuyển hoá. Nho giáo đã từ địa vị quan phương chính thống chuyển sang luân lạc trong dân gian, tức nó mới mất đi phần chính trị, phần ứng dụng của nó - Phương diện tôn giáo, triết học và cả tinh thần nhân văn vẫn tiếp tục tồn tại trong đời sống người Việt Nam. Nó tiếp tục được bảo lưu trong đời sống gia tộc, phong tục tập quán, nhân cách, lý tưởng, quan hệ nhân tế của con người. Sự chuyển hoá của nó là từ hệ tư tưởng quan phương chính thống sang một loại tư tưởng không chính thống, ảnh hưởng tự nhiên, phân tán trong cộng đồng xã hội mới. Trong định hướng giá trị của người Việt Nam, nó vẫn ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc.

Từ thời Lý, Nho giáo được bảo trợ bởi chính trị đã tiến những bước dài trong quá trình ảnh hưởng so với thời kỳ trước độc lập. Ở thời kỳ này, Nho giáo đã từ thượng tầng của tư tưởng mà tác động xuống cơ địa văn hoá, nó có phần áp đặt. Sự tác động của Nho giáo theo chiều hướng đó qua nhiều thế kỷ đã làm thay đổi diện mạo của toàn bộ nền văn hoá, tác động vào phong tục tập quán, tín ngưỡng, đã diễn ra một quá trình "tông pháp hoá" gia tộc người Việt. Tuy nhiên ảnh hưởng ở phương diện chính trị vẫn nổi bật nhất. Thế kỷ 20, không còn chỗ dựa chính trị, lại không được lưu truyền qua hệ thống giáo dục khoa cử, Nho giáo đã mất đi những chỗ dựa hết sức quan trọng. Nho giáo một cách tự nhiên chuyển sang tìm chỗ dựa ở tâm thức dân chúng, ở những nhu cầu và giá trị văn hoá bền vững và ổn định mà nó đã từng tạo ra được trong truyền thống. Từ chỗ dựa này, nó vẫn có những cơ hội tái sinh. Thế kỷ 20 trong trạng thái ảnh hưởng mới - tự do và phân tán trong dân gian - Nho giáo có quá trình tác động ngược chiều so với quá trình từng diễn ra trước đó, tức với tư cách là thành tố của cơ tầng văn hoá, nó tác động ngược chiều tới các lĩnh vực thượng tầng như chính trị, đạo đức, tư tưởng. Sự chuyển hóa của nó chính là sự hiện diện từng mảng, từng yếu tố trong tất cả các lĩnh vực văn hoá mới được kiến lập sau sự giải thể của Nho giáo. Tuy nhiên vị trí chủ cán của Nho giáo đối với văn hoá Việt Nam truyền thống không thực tiêu biểu và rõ ràng như vị trí của nó đối với văn hoá Trung Quốc, cho nên trong sự chuyển hoá mới, nó cũng rất khó có thể trở thành chủ cán trong văn hoá Việt Nam hiện đại.


2. Nguy cơ đối với văn hoá dân tộc và ảnh hưởng mới của Nho giáo

Nho giáo được lựa chọn ở Việt Nam thời trung đại phần quan trọng xuất phát từ nhu cầu xã hội nhà nước phong kiến trung ương tập quyền mạnh, từ nhu cầu củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc. Nho giáo và dân tộc, đó là hai vấn đề gắn bó hữu cơ, khăng khít.

Các nhà Nho Việt Nam vừa sống, tu dưỡng theo những nguyên lý đạo đức Khổng Mạnh, lại vừa ứng xử với tư cách người quốc dân luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Ý thức về độc lập và tự cường dân tộc, về truyền thống dân tộc kết hợp, hoà quyện cùng ý thức về đạo thống và chính thống trong tư tưởng các nhà Nho. Ðạo thống đối với nhà Nho Việt Nam được cảm nhận như một bộ phận của Ðạo được truyền báo và duy trì trên mảnh đất Ðại Việt, gắn với sự truyền thừa nền văn hiến của dân tộc.

Trong quá khứ, mỗi bước chuyển biến của dân tộc đều liên quan tới vận mệnh của Nho giáo. Ðã thành tiền lệ, các vấn đề văn hoá nảy sinh trong xã hội Việt Nam hầu như không được giải quyết độc lập, đáp ứng những nhu cầu vận động tự thân của văn hoá, mà thường được giải quyết đồng thời, giải quyết cùng lúc với vấn đề dân tộc. Nhân giải quyết vấn đề dân tộc mà đồng thời người ta giải quyết các vấn đề văn hoá. Chẳng hạn, cuộc kháng chiến chống Minh cứu vong dân tộc thế kỷ 15 với việc chuyển đổi hệ tư tưởng, thay đổi vận mệnh Nho giáo, hay Cách mạng tháng tám 45, là cách mạng dân tộc, vừa là cách mạng dân chủ, cách mạng văn hoá.

Từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, việc Việt Nam chuyển đổi cơ chế nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hoá quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường và hội nhập thế giới đã làm nảy sinh những nguy cơ đối với văn hoá Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển đổi cơ chế kinh tế làm phát xuất những nguy cơ từ bên trong và những nguy cơ bên ngoài kéo đến từ hội nhập quốc tế. Nguy cơ bên trong thể hiện ở sự xói mòn và băng hoại nhiều giá trị văn hoá truyền thống. Nguy cơ bên ngoài là việc thâm nhập của văn hoá Âu mỹ, của lối sống Tây phương hiện đại tấn công vào văn hoá bản địa, đe doạ sự tồn tại của bản sắc văn hoá dân tộc. Hai nguy cơ nảy sinh từ bên trong và tác động từ bên ngoài hợp thành môt nguy cơ lớn đe doạ văn hoá dân tộc. Lúc này nguy cơ đối với dân tộc không phải chỉ còn ở chỗ độc lập hay không độc lập, mà còn ở chỗ dân tộc có bị hoà tan trong cộng đồng văn hoá nhân loại hay không, cái sẽ là một thảm hoạ lớn và cũng là một loại diệt vong. Trước nguy cơ đối với văn hoá dân tộc đó, cả tự giác và không tự giác, người Việt Nam đã hướng về bảo lưu các giá trị truyền thống. Phong trào tái sinh văn hoá đã diễn ra mạnh mẽ. Tái sinh văn hoá diễn ra một cách tự nhiên trong dân gian và nằm trong chiến lược giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của Ðảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Truyền thống văn hoá được bảo vệ và phát huy theo hướng bảo lưu nhiều giá trị truyền thống đã tạo ra những cơ hội cho Nho giáo tái sinh. Ðiều đó là đương nhiên vì Nho giáo đã từng tham gia và là thành phần quan trọng kiến tạo bản sắc văn hoá. Ðồng thời cũng phải nhận thấy rằng bảo vệ truyền thống văn hoá cũng sẽ là điều không thể thực hiện được nếu gạt bỏ những gì thuộc về Nho giáo. Vậy là Nho giáo được lựa chọn, biến thiên, bị giải thể tái sinh thảy đều gắn rất chặt với vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Ðiều này hẳn là việc sẽ còn tiếp diễn lâu dài trong tương lai. Sự tái sinh của Nho giáo thế kỷ 21 không phải là sự tái sinh của thứ Nho giáo chung chung, mà là sự tái sinh của bộ phận Nho giáo đã Việt hoá sâu sắc, là sự tái sinh của thứ Việt Nho với những ưu nhược mà nó từng thể hiện.Vì thế trong diện mạo của văn hoá Việt Nam ở thế kỷ 21, không dễ phân biệt cái gì thực sự là của Nho giáo, cái gì là truyền thống người Việt nói chung. Năm 2000, tại Hà Nội, nhà Thái học (trường Ðại học dạy Nho giáo trước đây) đã được trùng kiến. Vị trí của Nho giáo và Khổng tử cũng có phần được cải thiện, nhưng đối với người Việt Nam đó vẫn là công việc tôn vinh truyền thống của Việt Nam mà không phải là nhằm tôn vinh Nho giáo và Khổng tử, dẫu hai điều đó có liên quan mật thiết với nhau.


3. Ảnh hưởng hiện đại của Nho giáo về mặt tôn giáo, tín ngưỡng

Trên phương diện là tôn giáo, tín ngưỡng, Nho giáo đã và đang tiếp tục ảnh hưởng mạnh tới đời sống xã hội. Ðây chính là phần hiện hữu sinh động và nổi bật của Nho giáo hiện đại.

Dẫu có nhiều thăng trầm và không ít sự thay đổi, tục thờ cúng tổ tiên, nhìn chung vẫn được duy trì suốt thế kỷ 20 đầy biến động vừa qua. Thờ cúng tổ tiên đối với người Việt không còn là chuyện Nho giáo hay không Nho giáo, nó đã Việt hoá sâu sắc thành một sinh hoạt, phong tục tập quán và tín ngưỡng quan trọng bậc nhất của người Việt. Sau cải cách kinh tế cuối thế kỷ 20, đời sống kinh tế đã khá lên, tục thờ cũng tổ tiên lại được đặc biệt coi trọng. Nó thành một điểm nóng của tái sinh văn hoá. Người ta đua nhau truy tìm phần mộ tổ tiên, sưu tập gia phả, nhận họ, sửa sang nhà thờ, thờ cúng tổ tiên hiện đại có xu hướng thế tục, thực dụng và nông cạn. Tiên tổ được đề cao như sự trợ giúp, chỗ dựa trong cuộc cạnh tranh thị trường khốc liệt. Thờ cúng tổ tiên ít còn được hiểu như hành vi luân lý, hành vi đạo hiếu, là việc giáo dục con cháu. Tương lai, việc thờ cũng tổ tiên có thể còn tiếp tục phát triển mạnh theo hướng thực dụng. Nho giáo sẽ có chỗ đứng vững chắc cùng hoạt động tâm linh này, nhưng không đẩy mạnh ý nghĩa giáo dục luân lý, đạo đức, tinh thần uống nước nhớ nguồn, tục thờ cúng tổ tiên sẽ mất đi nhiều ý nghĩa nhân văn vốn có của Nho giáo. Nó sẽ là xu hướng không lành mạnh nếu không có sự can thiệp, dẫn dắt của tri thức, của dư luận xã hội.

Suốt trong khoảng thời gian mười thế kỷ trung đại, đã từng có những giai đoạn Nho giáo được coi là độc tôn. Tuy nhiên, khung cảnh của truyền thống tư tưởng vẫn là tam giáo hoà đồng. Tam giáo phân chia lĩnh vực ảnh hưởng và bổ sung cho nhau. Hoà đồng tam giáo là nết nổi bật trong tư tưởng Việt Nam trung đại. Thế kỷ 20, khi Nho giáo không còn ảnh hưởng mạnh trong đời sống chính trị, nó "thất thế" về toàn cục. Phật giáo có nhiều cơ hội hơn trong việc giữ vững vị thế của mình. Chính sự khác nhau trong mối quan hệ với chính trị giữa Nho giáo và Phật giáo đã khiến cho chúng nhận được những thái độ khác nhau của chính trị hiện đại. Nhà chùa đã tự điều chỉnh để thích ứng với điều kiện mới, đòi hỏi mới của xã hội. Phật giáo cũng vươn ra gánh vác nhiều hoạt động mà trước đây do các nhà Nho làm. Hiện nay, nhiều chùa chiền là nơi dạy chữ Hán. Nhiều nhà sư hăng hái nghiên cứu Nho gia (tương tự khung cảnh thời Lý - Trần). Chắc chắn Phật giáo sẽ còn có những cơ hội phát triển mạnh hơn trong tương lai. Nhưng Phật giáo sẽ thiên về thu hút các tầng lớp dân chúng đông đảo. Phật giáo tiếp tục thoả mãn nhu cầu giải thoát, nhu cầu tâm linh của số đông nhân dân. Tuy nhiên, tham gia vào quá trình kiến tạo và dẫn dắt tư tưởng, văn hoá dân tộc, giải quyết những nguy cơ dân tộc về mặt văn hoá thì lại là việc mà Nho giáo có nhiều khả năng hơn hẳn Phật giáo. Trong những điều kiện mới, Nho giáo sẽ tiếp tục ảnh hưởng mạnh ở giai tầng tri thức. Nó tham gia kiến tạo nhân cách, nhân sinh, dẫn dắt các quan hệ xã hội, ứng xử xã hội của dân chúng. Khung cảnh đa giáo hoà đồng sẽ tiếp tục được duy trì, nhưng Phật giáo sẽ là chủ đạo chứ không phải Nho giáo. Sự cải thiện vị trí và những khả năng ảnh hưởng mạnh của Nho giáo chỉ được thực hiện khi chính trị ưu ái hơn với Nho giáo và sự nhận thức của trí thức đối với văn hoá truyền thống, đối với tương lai văn hoá Việt Nam có những điều chỉnh thích hợp.


4. Cái học tâm tính của Nho giáo trong tương lai.

Ðã là nhà Nho, đã từng nghiềm ngẫm kinh điển Nho gia, ai cũng coi trọng cái học nội tỉnh tự tu tự giám, ai cũng coi tu thân là gốc của mọi quá trình. Cái học hướng nội điều chỉnh ấy nhà Nho gọi là cái học nội thánh, hay tâm tính chi học. Từ nội thánh, nhà Nho triển khai ngoại vương. Ðó là đặc sắc của Nho gia. Thế kỷ 20, Nho gia ít còn điều kiện và cơ sở xã hội để thực hành đạo ngoại vương. Nhưng trong thời kỳ dân chủ, tự do, đề cao cá nhân, cái học nội thánh vẫn còn có chỗ đứng, nó rất cần cho việc tu dưỡng của người hiện đại. Hoàn thiện nhân cách, truy cầu lý tưởng nhân sinh an lạc hoà hài không mâu thuẫn với cá nhân tự do. Các học giả tân nho gia đã nhận thức rõ điều này. Họ đã ra sức khuếch trương cái học tâm tính, kiến lập cái học nội thánh mới theo hướng dung hợp Nho - Phật. Dung hợp tư tưởng Nho gia và triết học phương Tây cận hiện đại là trọng tâm của quá trình chuyển hoá hiện đại Nho học. Nhiều học giả còn lãng mạn hơn khi hy vọng tâm tính học Nho gia là phương thuốc chữa căn bệnh khủng hoảng cá nhân và tạo dựng xã hội hoà hài tốt đẹp.

Việt Nam trong thời kỳ trung đại, do quá thiên về mặt chính trị, mặt ứng dụng, sự truyền bá Nho giáo lại chủ yếu thông qua giáo dục khoa cử, cái học tâm tính của Nho gia cũng được nhà Nho quan tâm nhưng nó không được chú trọng và đẩy tới chiều sâu của tu dưỡng đạo đức khắc kỷ như ở Trung Quốc và các quốc gia Ðông Á khác. Nho giáo Việt Nam thiên về ngoại vương, ngoại vương cường mà nội thánh nhược. Lục Cửu Uyên và Vương Dương Minh hầu như không có vị trí đáng kể, không thu hút sự chú ý của nhà Nho Việt Nam.

Trong sự chuyển giao thời đại, Nho gia sẽ đi vào hiện đại chủ yếu bằng tâm tính học. Nhưng ở Việt Nam, sự triển khai cái học tâm tính cho thời dân chủ và cá nhân sẽ gặp những khó khăn nghiêm trọng, do nó là điểm yếu trong truyền thống. Nếu phát huy mạnh cái học tâm tính, một truyền thống mới rất khác trước diễn ra. Nó là việc khó nhưng vẫn cần thiết, bởi vì nếu thiếu chiều sâu của cái học tâm tính, Nho gia sẽ chỉ còn là nông cạn, thiển cận. Thiếu vắng cái học tâm tính, yếu tố tích cực của Nho giáo sẽ mất đi rất nhiều. Ði qua khúc ngoặt thế kỷ 20, Nho giáo Việt Nam có thể từ "ngoại vương cường chuyển sang nội thánh cường." Ðể có sự chuyển hướng này, tầng lớp trí thức phải gánh vác sứ mệnh. Chỉ có nhận thức cho rõ ngả đường vận động tất yếu của Nho giáo, định hướng nó theo chiều phát huy hết cái tích cực cho con người và xã hội tương lai, Nho giáo mới thực sự được tái sinh một cách lành mạnh, tự giác. Ðó là việc chủ động để giữ gìn bản sắc, xây dựng nền văn hoá mới của dân tộc Việt Nam.

Sự ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ 21 sẽ còn thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác, chẳng hạn trong lĩnh vực phong tục tập quán, văn hoá gia tộc, quản lý kinh doanh v.v. do khuôn khổ của bài viết chúng tôi chưa có điều kiện đề cập một cách cụ thể. Bài viết này chỉ là gợi mở một vài hướng suy nghĩ về tương lai của Nho giáo trong xã hội Việt Nam. Người viết coi đây là sự khởi đầu một hướng quan tâm, vừa cấp bách vừa lâu dài. Rất mong sự chỉ giáo của các vị thức giả.

Nguồn: Tạp chí Văn hoá - Nghệ thuật, Hà Nội, số tháng 2/2003