Wednesday, February 01, 2012

Cái chữ Nhẫn (忍)


Thư pháp của Chương Thiên Khiếu. Nguồn: ở đây

Ngày xuân, qua mấy nhà người quen, thấy nhà nào cũng treo một chữ Nhẫn viết chữ Hán với các trình độ viết, khả năng thư pháp thể hiện rất khác nhau. Thấy nhiều chữ Nhẫn quá mà tự nhiên không thể nhẫn được mà đành bày tỏ đôi dòng. Phải nói cái chữ Nhẫn thật hay. Nín nhịn, chịu đựng, nhường nhịn quả là có thể đem lại cho các quan hệ xã hội nhiều tác dụng to lớn. Chữ Hòa () quả khó đạt được nếu thiếu Nhẫn. Một cá nhân, một gia tộc, một cộng đồng mà biết Nhẫn thì tránh được nhiều điều rắc rối. Nhiều người đã làm cả thơ để diễn nghĩa, tán dương ý tứ sâu xa, tốt đẹp của cái chữ Nhẫn này, rồi thể hiện trên các chất liệu khác nhau, treo trên tường như một loại châm, minh tự răn tự giới. Cứ xem thời thế hiện nay, ra đường nhìn vào mặt nhau đã có thể gây án mạng vì bị quy kết là “nhìn đểu” thì mới thấy cái chữ Nhẫn nó hay đến thế nào. Có lẽ cũng không cần thêm lời ca ngợi sự tuyệt vời của tinh thần nhẫn nhịn nữa. Nhưng cứ nghĩ đi nghĩ lại, nếu một cộng đồng rộng lớn mà mọi người đều Nhẫn, cộng đồng đó là một cộng đồng vĩ đại, đáng kính nể, nhưng nó cũng là một cộng đồng có vấn đề và một cộng đồng tiềm chứa trong nó những nguy cơ tinh thần.


Photobucket
Thư pháp của Trần Đôn Tam. Nguồn: ở đây

Nhẫn có nghĩa là dồn nén, chế ước, áp chế, nhốt chặt cái bất bình, là dùng áp chế tinh thần để chịu đựng cái mà bình thường khó chịu hoặc không thể chịu. Nó là sự cố gắng chấp nhận cái khó chấp nhận. Nín nhịn để cho mọi việc được tốt đẹp. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là cái khó chịu, cái tức giận vẫn còn nguyên đó. Cái gì dồn nèn mãi cũng hại tâm hại khí. Điều này xem ra không có lợi cho sức khỏe. Cứ dồn mãi cái tức vào đó, tới lúc tức nước vỡ bờ, không nhẫn được nữa thì cái sự xả tức giận sẽ thật đáng sợ.


Photobucket
Thư pháp của Lưu Kế Vũ.  Nguồn: ở đây

Triết lý  Nhẫn có lẽ phù hợp với số đông và ở cấp độ thông thường thì nó không quá khó thực hành. Nó là một sự khôn ngoan dành cho cộng đồng. Đối với người tiềm tâm hơn vào việc dưỡng tâm và hy vọng có những ứng xử hiệu quả phù hợp với cá nhân cao hơn mặt bằng tinh thần số đông một chút thì có lẽ Nhẫn không vẫn chưa đủ. Cao hơn Nhẫn là phải biết hỷ xả, biết trút bỏ, phải triệt tiêu sự tồn tại của những nỗi niềm tức giận để nó không những tốt hơn cho quan hệ mà còn tốt cho cả mình.  Sự hóa giải mọi niềm phẫn uất để đạt tới an lạc, tự lạc, tự tại là cảnh giới tinh thần cao hơn Nhẫn. Không chỉ nín nhịn mà có thể mỉm cười với những điều có thể gây ra sự khó chịu bực tức. Như vậy chữ Lạc phải được đặt cao hơn Nhẫn một bậc. Muốn thế phải xả kỷ tòng nhân để không bực tức. Muốn thế phải giữ cho hư tâm như triết lý sống của người quân tử.

Suy cho cùng, Nhẫn hay Lạc hay trạng thái nào đi nữa cũng đều là  sản phẩm của sự tu dưỡng và tự chủ tinh thần, mỗi người với khả năng của mình nên cố gắng đạt tới trạng thái tốt nhất có thể theo một cách phù hợp. 

Monday, January 23, 2012

CƯ DI KHÍ, DƯỠNG DI THỂ


Ông Mạnh tử thời xưa có nói: “ Cư di khí, dưỡng di thể”. Đại ý câu này là cư trú có thể làm thay đổi khí chất, nuôi dưỡng có thể làm thay đổi thể chất  con người ta. Cái vế sau của câu thì ý tứ rất rõ. Ai cũng có thể dễ dàng hiểu được rằng: nuôi dưỡng, chăm sóc, chế độ dinh dưỡng có thể làm thay đổi thể chất của con người, có thể làm cho người gầy thành người béo, người khỏe thành người khỏe hơn, và cũng có thể biến người khỏe thành yếu, người yếu thành yếu hơn :). Cứ xem các cháu học sinh phổ thông nghỉ một tuần tết âm lịch xong cháu nào má cũng phính ra thì đủ thấy sự sinh động của  dưỡng di thể. Ông Mạnh tử nhiều lần tính toán về việc trồng cây nuôi gia súc để làm thế nào cho người già có thịt ăn và có áo lụa mặc. Xem ra ông cũng có khiếu về việc nhà nông và có tư chất nhà dinh dưỡng học. Nhưng có lẽ điều muốn bàn ở đây là cái ý tứ quan trọng ngụ ở vế trước của câu  nói.  Mạnh tử khẳng định khả năng thay đổi cả khí chất và thể chất của con người lệ thuộc vào nhân tố tác động bên ngoài.  
Thể chất chỉ trạng thái mạnh yếu của cơ thể sinh học con người. Còn khí chất chỉ loại tố chất tinh thần, chẳng hạn yếu ớt hay mạnh mẽ về tinh thần, nhút nhát hay hùng dũng, can đảm. Khí chất được đề cập ở đây không hẳn phải là tính nết, là thiên tính đạo đức mà là một chất lượng của thể trạng của tinh thần, quy mô tầm vóc của thể trạng tinh thần đó.  Câu  cư di khí, có thể hiểu theo một đại ý là: chỗ đứng, vị trí xã hội có liên hệ với khí chất của con người. Sự thay đổi và chuyển dời vị trí xã hội có thể kéo theo sự thay đổi về khí chất. Cũng là con người ấy, ngày hôm trước là anh  điền xá lang thì ăn nói rụt rè, không dám nói to, không dám nghĩ tới việc lớn. Nhưng hôm sau  đăng thiên tử đàng có thể lời nói của anh ta đã thêm phần gang thép, ăn nói hiên ngang, suy nghĩ hoằng đại, uy phong lẫm liệt, đi đứng hùng dũng. Hôm qua còn là học viên, dự hội thảo khoa học  thì nói năng thiếu tự tin, rào trước đón sau năm bẩy lần mới trộm nghĩ, lạm bàn vài câu. Nhưng vài hôm sau nhận bằng tiến sĩ, có thể vẫn là điều ngày hôm trước trình bày, nhưng nay thì  ăn nói hiên ngang:  theo tôi nghĩ thì phải là thế này, vấn đề này tôi là chuyên gia... Sự thay đổi chỗ đứng trong xã hội thực sự kéo theo sự chuyển đổi khí chất của con người, mà khí chất này tác động tới tư duy, tính toán, ứng xử, hành động và quan hệ. Cổ nhân nói “  miệng kẻ sang có gang có thép” cũng là một tổng kết thực tế về mối liên hệ giữa địa vị và khí chất.
Ngẫm ở đời, nếu sự thay đổi về môi trường làm việc, thay đổi về phạm vi ứng xử, tầm bao quát và quản lý không kéo theo sự điều chỉnh về những tố chất tinh thần tương ứng thì người ta không thể hoàn thành sứ mệnh của mình. Nhưng điều đáng bàn là những cái gì của con người ấy sẽ thay đổi theo cùng với cái khí chất ấy. Các nhà Nho nhiều thế kỷ trước công nguyên đã tỏ ra có lý khi lo lắng về điều này.  Ông Tử Cống, một đại gia trong số các học trò Khổng tử, từ nghèo hèn mà dần giàu có nhờ làm doanh nhân, thấy mình vẫn giữ được những phẩm chất tinh thần tốt đẹp, bèn tới hỏi thầy Khổng với ý khoe ngầm rằng:
Thưa thầy, có một người khi nghèo mà không nịnh, lúc giàu sang mà không kiêu căng thì thầy đánh giá về người ấy thế nào? ”.
Thầy Khổng bảo:
Cũng tạm được, nhưng chưa bằng  người khi nghèo mà vẫn an lạc thanh thản, lúc giàu sang mà vẫn hành động đúng theo lễ nghĩa”.
Với loại người thứ hai mà thầy Khổng nói tới ắt phải là bậc đắc đạo, tu tới độ nhuộm mà không đen được, mài mà không mòn được. Loại này khí chất cũng có thể thay đổi, nhưng nó là sự đổi thay trên nền tảng một trục tâm, một trường điều khiển bền vững, nó là sự biểu thị khả biến của cái lõi bất biến, đó là ĐẠO của nhà Nho. Có cái cốt đó, xuất nhập tiến thoái muôn hình vạn trạng mà không đánh mất mình, thiếu cái đó chỉ sớm chiều thay đổi, anh ta đã không còn là anh ta nữa. Thầy Mạnh tử nói tới những tính khả biến, tính dễ thay đổi của con người để lưu ý tới việc kẻ sĩ hiểu điều cần làm, hiểu rằng nhân tính khả tố để tự định liệu.
Cuộc đời nhiều thay đổi, người ta thực nhỏ bé như cánh cỏ bồng cỏ cảo trước gió, tìm chỗ bấu víu  tinh thần để trụ cho được trước phong ba quả là cần thiết nhưng chẳng phải dễ dàng.
Thể chất cũng có liên hệ  khăng khít với khí chất. Mỗi ngày cần ít nhất 30 phút để luyện  thể thao với niềm hy vọng: dưỡng di thể.
          ( Mồng một tết nguyên đán Nhâm Thìn, tức 23/1/2012 tây lịch. khai blog đầu xuân)

Saturday, December 17, 2011

VIỆC XUẤT THẾ, NHẬP THẾ CỦA ĐẠI TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG TRẦN NHÂN TÔNG




Gần đây sự nghiệp tu hành, tư tưởng, triết lý của Trần Nhân Tông được chú ý bàn luận khá nhiều. Đó cũng là một phần của xu hướng  Phật giáo và Phật học đang hưng thịnh tại Việt Nam. Đã có rất nhiều bài viết được công bố, sách được in và rất nhiều hội thảo được tổ chức. Có một vấn đề mà rất nhiều, rất rất nhiều bài viết nói tới, bàn luận và  ca ngợi, đó là tinh thần nhập thế của Trần Nhân Tông. Có người cho rằng cái tuyệt vời của ông chính là đi tu xuất gia như thế, vậy mà vẫn nhập thế, vẫn không quên đời, quên người, vẫn để lại dấu ấn trong chính trị, quân sự, ngoại giao…như vậy mới tuyệt vời, như vậy mới có điều kiện đóng góp cho lịch sử, cho dân tộc.
Việc ca ngợi như vậy đúng hay không đúng? Hay hay dở? Nên không nên? Câu hỏi này là một việc lớn cần thảo luận, bản nhân không dám hồ đồ, lạm bàn. Tuy nhiên bằng trực cảm  thì thấy có cái gì đó chưa thật ổn thỏa. Bản chất, tính khuynh hướng của Phật giáo là xuất thế hay nhập thế?  Phật giáo là xuất thế, là siêu thế. Phải xác định dứt khoát là thế. Còn xuất thế bằng cách nào, xuất thế không rời thế gian tướng, giải thoát không ngoài thế gian, từ thế gian, trong thế gian là một vấn đề thuộc cách thức. Niết bàn thị sinh tử, sinh tử thị niết bàn cũng không nằm ngoài lẽ làm thế nào để đạt tới Niết bàn. Đó đều là con đường và cách thức để xuất thế.  Giống như một câu chuyện Thiền, trước khi Thiền thấy bình trà tách trà là bình và tách, đang thiền thấy bình không còn là bình tách không còn là tách, Thiền định xong rồi bình trà lại vẫn là bình, tách vẫn lại là tách. Nó  là nó nhưng cũng không còn là nó. Việc nhập thế của người đã xuất thế tới hết mức thì rất khác với người chỉ biết có đời là đời.  "Thế" của người xuất thế mà nhập thế với " Thế" của người tại thế tuy một mà lại là hai, dẫu hai nhưng vẫn là một.
Trần Nhân Tông quả là có nhập thế, nhưng ông nhập thế sau khi đã siêu xuất, nhập thế để xuất thế, xuất thế mà nhập thế. Những bài ca ngợi về  ở trần vui đạo đều do cụ ngồi chốn Yên tử mà suy xét cả. Vấn đề ở chỗ ở đời mà vẫn vui đạo, đắc đạo rồi thì xuất nhập là một.
Ngu ý cho rằng, Trần Nhân Tông nhập thế thật, nhưng cái nhập thế đó cần hiểu như thế nào, cần đặt trong thiền  mà xét, không thể xem sự nhập thế đó cũng giống với việc nhập thế hành đạo kiểu Nho gia hoặc nhập thế là tại thế gian như người thường. Nếu chỉ có biết nhập thế là nhập thế thì có lẽ người bán cá bán rượu ở chợ, người tại gia không biết tới mùi Thiền là những người nhập thế nhất trên thế gian này chứ không phải đại lão hòa thượng Trần Nhân Tông.
                       Kính trọng đại lão hòa thượng vô ngần nên thấy e ngại với  cả những sự ca ngợi
                                                                                                                    17.12.2011


Tuesday, November 08, 2011

LÀM THẦY KHÓ, LÀM TRÒ CŨNG CHẲNG DỄ




Xưa nay người đi học đối với thầy và với học thuật của thầy tồn tại nhiều loại thái độ khác nhau. Trong trường hợp ông thầy là một học giả, một người có uy tín học thuật thì mối quan hệ  hay cách nhìn của học trò đối với đạo của thầy ( và đương nhiên là với cả thầy)  thường thể hiện thành vài loại thái độ:
Loại thái độ thứ nhất: càng học, càng đọc, càng theo thầy, càng nghiền ngẫm về đạo của thầy, càng hiểu càng thấy thầy mình cao vời vợi, càng nghe càng thấy thầy như Thái sơn Bắc đẩu sừng sững không thể và không cách gì với tới, chưa nói chuyện vượt qua. Học trò càng học càng  thấy mình nhỏ bé yếu đuối. Đây có thể là một cảm giác mà học trò đối mặt, cảm nhận thấy một cách nghiêm túc thực sự. Dĩ nhiên  đó cũng có thể là một biểu thị khiêm tốn, hoặc để tôn cao thầy. Cá biệt cũng  có người đề cao thầy chẳng phải vì thầy mà là một cách gián tiếp tôn cao mình. Các trường hợp này có thể tìm thấy khá phong phú trong lịch sử giáo dục.
Trong các học trò của Khổng phu tử, chúng ta biết người học trò được ông yêu quý nhất là Nhan Hồi. Nhan Hồi là cao đệ bậc nhất được Khổng tử công khai thừa nhận và không tiếc lời ngợi khen. Ông kỳ vọng Nhan Hồi có thể kế tục và phát triển được học thuyết của mình. Về phía Nhan Hồi, ông  tiếp thu tất cả những gì mà thầy truyền dạy,  những điều thầy dạy bảo đối với Nhan Hồi đều là chân lý, đều thiêng liêng. Ông “ mặc  nhi thức chi”  một cách tuyệt đối và tiếp nhận trong mọi trường hợp, ngấm một chiều và ngấm một cách tự nhiên, chỉ có hỏi thêm mà không thắc mắc. Cách tiếp thu của ông khiến nhiều người tưởng ông  là người ngu. Ông không hề thắc mắc hay phản ứng gì. Có người cho rằng có thể năng lực trác việt đã khiến ông tiếp nhận được và thấu triệt được tất thảy mọi sự truyền giảng phức tạp  nhất từ thầy, tương tự như cặp thầy trò Thích Ca – Ca Diếp với  câu chuyện về một nhành hoa bốn ánh mắt, hai nụ cười và một Thiền ngữ nổi tiếng.
 Nhan Hồi  nói về đạo của thầy: “Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu. Phu tử tuần tuần nhiên  thiện dụ nhân, bác ngã dĩ  văn ước ngã dĩ lễ, ký kiệt ngô tài nhi hữu sở lập trác nhĩ. Tuy dục tòng chi, mạt do dã dĩ” ( Luận ngữ. Tử hãn) ( Càng ngẩng trông càng thấy cao, đục đẽo vào càng thấy cứng, vừa thấy đằng trước, thoắt đã đằng sau. Phu tử giỏi dẫn dắt người từng  bước từng bước, lấy văn mã mở mang cho ta, lấy lễ mà ước thúc ta, ta đã vận dụng hết khả năng của mình mà vẫn thấy đạo của thầy sừng sững trước mặt. Ta muốn theo đạo đó, nhưng chắc chỉ được phần nào mà thôi)
 Trong lời Nhan Hồi tán dương đạo của thầy, ta thấy có cả tiếng thở dài bất lực của người học trò vĩ đại này. Nhà nho thường nói tới tinh thần Khổng Nhan lạc xứ, tức cái vui, cái lạc thú của Nho gia trong việc tu thân dưỡng tâm, trong cuộc sống nho môn đạm bạc, nhưng ở đây rõ ràng không phải lúc nào họ cũng vui, lúc nào cũng lạc cả, thế mới là cuộc đời. Chữ Lạc của Nho là nói về thái độ sống, là nói tới việc tu dưỡng, còn ở đây nhìn từ góc độ nhìn nhận và đối đãi với học thuyết của thầy, Nhan hồi có chút bi kịch, bi kịch của học trò bị ngợp trong học thuyết của thầy. Ông  cố gắng biến mình thành một hiện hữu sống của đạo đức theo mẫu mực mà Khổng tử mong muốn. Khổng tử khen Nhan Hồi là người hiếu học, chỉ duy nhất ông được khen như vậy. Khi Nhan Hồi chết, Khổng tử nói hiện không còn ai hiếu học nữa.     
Ông Trình Hạo đời Tống ca ngợi việc học của Nhan Hồi[1], kiên quyết cho rằng nếu ông không chết sớm thì rất có thể  sự học sẽ đưa ông tới sự chuyển hóa mà thành thánh nhân, tiếc rằng ông đã không sống được tới ngày đó, vì thế ông chỉ là bậc hiền giả mà thôi.  Nếu ông sống tiếp, có thể ông vẫn cứ thành thánh nhân với mẫu mực đạo đức tuyệt vời. Ta cũng không  biết  sau khi thành thánh nhân trông ông có tựa kẻ ngu nữa hay không. Nhưng cứ giả sử như Nhan Hồi  không chết sớm, sự tôn sùng đạo của thầy đã khiến ông không mảy may nghi ngờ, và vì thế khó có thể phát triển được học thuyết của thầy. Đã thấy đạo của thầy tận thiện tận mỹ thì hẳn sẽ không nghĩ tới việc thêm vào hay sửa đổi cho tốt thêm. 
 Khác với Nhan Hồi, Tăng Sâm lại là một mô thức khác hẳn. Ông  không được khen ngợi như Nhan Hồi, nhưng cũng được Khổng tử coi là học trò giỏi và thường giảng giải cho những điều cốt yếu. Tăng Sâm  không bị choáng ngợp trước thuyết của thầy, ông luôn tỏ ra chủ động nắm được điều cốt yếu, then chốt, điểm quán xuyết học thuyết của thầy. Luận ngữ  còn kể lại, một lần Khổng tử nói với Tăng Sâm rằng: “ Sâm hồ, ngô đạo nhất dĩ quán chi”. Tăng Sâm chỉ  khẽ “ dạ”. Khi thầy Khổng đi ra, những người khác hỏi Tăng Sâm rằng thầy vừa nói điều gì, Tăng Sâm  trả lời, đạo của thầy chẳng qua chỉ là  trung thứ mà thôi. Tăng Sâm đã liễu ngộ được điểm cốt yếu của đạo thầy.
Loại thái độ thứ hai:  Mới được thầy truyền cho chút ít đã thấy mình cũng chẳng kém ai, cũng vĩ đại rồi, tri thức nhân loại chỉ có chút thế mà thôi, ông ấy thì chẳng có gì là lớn cả. Nếu thực tế đạo của thầy chẳng ra gì thật thì không có gì phải bàn, nhưng cũng nên bày tỏ sự tôn trọng mà tìm người khác giỏi hơn để mà học. Nguy hiểm thực sự là kẻ được học người giỏi mà không thấy thầy hay, khinh mạn cho rằng mình hơn người, hơn thầy rồi.  
          Thái độ cầu học và đối đãi với sở học của thầy quả là không dễ dàng gì. Sùng kính thái quá mà thấy mình nhỏ bé đi cũng không nên. Khinh mạn, tự cao mà không biết tôn trọng thầy đương nhiên là khiếm khuyết về cả đạo đức lẫn trí tuệ.  Kẻ minh triết có lẽ là cần sáng suốt tự thủ, thầy dẫu thật giỏi cũng nên cố học, cố tìm cái gì còn có thể bổ khuyết để cầu tiến, thầy chưa thật giỏi thì cũng phải biết trân trọng những gì mà thầy đã tạo ra để làm thêm, để đi tiếp. Trân trọng những giá trị tri thức, tinh thần dù nhiều dù ít mà thế hệ trước tạo dựng, coi đó như nhũng viên gạch đặt nền cho ta cao thêm. Đương nhiên, làm được thế trò cũng không thể là loại xoàng, thầy cũng phải là người đáng làm thầy, đủ để dẫn dắt học trò.
Làm thầy khó, làm trò cũng chẳng dễ
                             (11.2011. Nhân đọc lại bài Nhan tử sở hiếu hà học luận )



[1] Xem :" Cận thư lục - Nhan tử sở hiếu hà học luận"

Thursday, September 29, 2011

TƯỞNG DỄ HÓA KHÓ


Có một học giả nước ngoài nhờ chọn 03 tác phẩm Hán văn có tính chất kinh điển trong kho di sản Hán văn Việt Nam, tiêu biểu cho 3 lĩnh vực văn- sử - triết để phục vụ cho chương trình nghiên cứu và giảng dạy của cá nhân ông ta. Nghe nói tôi nhận lời luôn vì nghĩ thư tịch Hán văn nước nhà phong phú tới độ “hãn ngưu xung đống”, số lượng lưu giữ kể tới hàng vạn đơn vị tư liệu, chọn lấy 03 tác phẩm có gì khó. Với ý thức mong muốn truyền bá giới thiệu văn hóa nước nhà cho học giả thế giới tôi hăng hái tiến hành công việc này luôn.
Bắt tay vào việc mới thấy nó không dễ chút nào.  Về sử học, việc chọn còn tương đối thuận lợi,  có thể chọn  Đại Việt sử ký toàn thư, một tác phẩm quan trọng và mẫu mực cho nhiều phương diện của sử học Việt Nam truyền thống, từ phương diện  sử sự, sử bút, sử luận, sử bình, và tư tưởng sử. Nó cũng thể hiện những vấn đề lớn của lịch sử dân tộc trong một thời gian dài. Chỉ có điều tác phẩm này lại không bao quát hết được khoảng thời gian vài thế kỷ cuối của thời kỳ trung đại. Vì lý do đó, có tính tới việc chọn tác phẩm  Việt sử thông giám cương mục, soạn triều Nguyễn là tác phẩm có độ bao quát cao hơn, như vậy đối với tác phẩm sử, công việc chỉ còn là cân nhắc trong một vài tác phẩm.
          Với tác phẩm văn chương chữ Hán, câu chuyện có khó hơn một bậc. Phần chiếm tỷ lệ lớn nhất trong kho thư tịch cổ của Việt Nam là văn chương. Trong đó có cả các nhóm vận văn, tản văn, biền văn, cùng các loại tạp văn tạp ký khác. Thơ phú chiếm số lượng lớn nhất. Mỗi loại tác phẩm có giá trị riêng, mỗi loại mỗi vẻ, chỉ có điều khó tìm được tác phẩm nào mười phân vẹn mười.
          Việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhân sĩ thế giới chiêm ngưỡng phải chú ý tới nhiều phương diện của tác phẩm,  nghệ thuật văn chương phải xuất sắc, để cho thế giới thấy cái tài hoa của cha ông, so với văn nhân Đường, Tống phải không có kém gì thậm chí phải  hy vọng nó có phần ưu trội. Về mặt nội dung nó phải thể hiện được cái sâu sắc tinh tế của tâm hồn người Việt, khí thế của dân tộc, tinh thần Việt… Theo hướng đó,  chỉ có vài tập thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, hoặc Nguyễn Du là tiêu biểu, nếu chọn văn xuôi nghệ thuật, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ( Tự) là ứng viên nổi bật. Tuy nhiên, chọn  tác phẩm nào cũng thấy  có cái  ổn cái chưa ổn, sự phân vân vẫn còn chưa hết. Tuy nhiên việc vẫn là khả dĩ.
          Việc khó nhất thuộc về việc chọn tác phẩm triết học. Người Trung Quốc khi chọn 01 tác phẩm tiêu biểu có cái khó riêng do họ nhiều quá, nhưng theo thông tin tôi biết, tác phẩm Chu Dịch được chọn là tác phẩm triết học số một của triết học truyền thống Trung Quốc. Soát toàn kho thư tịch, chọn chưa ra được tác phẩm nào tiêu biểu cho nền triết học Việt Nam. Những tác phẩm có thể điểm danh gồm: Khóa hư lục của Trần Thái Tông; Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung Thượng sĩ, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm; Dịch kinh phu thuyết của Lê Quý Đôn; Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn…Trong những tác phẩm trên chọn một công trình nào cũng thấy chưa ổn.
Khó quá, khó quá…
                                                Tháng 9 năm 2011

Tuesday, September 13, 2011

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ KHUẾCH ĐẠI NHÂN DỤC - thuyên thích mới về bốn chữ tâm truyền của Nho gia: “nhân tâm duy nguy” (人心維危)


Nhân dục là điều mà các tôn giáo đều quan tâm đặc biệt và có thái độ đối xử “rắn” đối với nó.  Phật giáo dứt khoát tuyên bố diệt dục. Những điều răn giới của Phật giáo hầu như đều có liên quan tới nhân dục. Nhân dục được xem là nguồn gốc của vạn khổ. Nho gia thì chủ trương kiểm soát, điều tiết, chế ước nhân dục, làm cho nhân dục phù hợp với quy phạm xã hội, mức độ cao nhất là đồng nhất nhân dục và Lễ (quy phạm xã hội). Các vị đại Nho đời Tống-Minh chủ trương tu dưỡng khắt khe nghiêm cẩn và chịu tác động của Phật giáo nên cũng  tuyên bố “tồn thiên lý diệt nhân dục”. Mười sáu chữ tâm truyền được coi là ấn quyết của Nho gia lần đầu nêu trong tác phẩm kinh điển Thượng thư đã lưu ý truyền đời về sự mong manh của nhân tâm rằng: Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung”. Duy chỉ có học thuyết của Đạo gia được xem là túng dục, tức buông cho nhân dục theo lẽ tự nhiên, không trói buộc. Tuy nhiên đó chỉ là ở nguyên lý coi trọng cái tự nhiên, còn trong phép tu dưỡng, Đạo gia cũng hướng tới trạng thái thanh tĩnh tự nhiên, hư tâm, tĩnh tâm, thiểu tư quả dục. Trạng thái ấy suy cho cùng cũng là thứ nhân dục có chừng mực, phù hợp với đạo tự nhiên vốn đã chí mỹ chí thiện chỉ cần bảo tồn nó. Các triết gia trong học thuyết của mình luôn tìm mọi cách hạn chế nhân dục để bảo vệ sự tồn tại bình ổn của xã hội, bình ổn cho thân tâm các cá nhân. Ai cũng hiểu rằng, nhân dục, quyền lợi của cá nhân và sự bình ổn xã hội, lợi ích xã hội luôn mâu thuẫn với nhau, trái chiều nhau.

Chỗ dựa của kinh tế thị trường chính là nhân dục, là cái mà người ta gọi là “thị hiếu của người tiêu dùng”. Chỉ cần quan sát một số chương trình quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng, ta thấy một sự mời chào vẫy gọi mãnh liệt đối với “thị hiếu” của dân chúng. Những ngôi nhà sang trọng đầy đủ tiện nghi, những chiếc xe hiện đại đời mới, những đồ dùng đa chức năng hấp dẫn, vvv…. được chào mời bằng những lời quảng cáo ngọt ngào còn hơn cả lời Bạch Cốt Tinh: hãy thử xem, chỉ một lần, hãy tận hưởng cuộc sốnghãy nếm thử, “cứ gọi là thôi rồi…sướng … ướng ư ử”… Khẩu hiệu của người sản xuất hàng hóa là: đã làm cho người tiêu dùng thích rồi, còn làm cho họ thích nữa, đã sướng rồi còn sướng nữa, tiện nghi rồi còn tiện nghi nữa, mát rồi còn mát nữa…Còn một loại hàng hóa khá đặc biệt khác với nhãn hiệu Number one thì treo một cái “status” hấp dẫn là “Thỏa sức yêu thương”… Những nhân viên nghiên cứu tâm lý người tiêu dùng thì đào từng ngóc ngách thị hiếu, xem người ta thích gì thì đánh vào chỗ đó. Và cứ thế, hàng ngày nhân dục được khai thác, được tận dụng, được khuếch trương, được lôi kéo và được làm thỏa mãn. Nền sản xuất hàng hóa nắm cái nhân dục cũng như người nông dân nắm cổ con trâu đã được xỏ mũi mà  lôi đi. Hôm nay thấy  bạn mình có cái váy đẹp mà mình chưa có, tối về thấy khổ sở mất mấy tiếng đồng hồ. Mai thấy bạn mình sắm được ô tô đẹp mà mình vẫn phải đi cái xe máy rách thấy vừa ghen tức, vừa khổ sở, vừa thèm khát. Và nỗi thống khổ giày vò họ ngày này sang ngày khác. Cầu bất đắc khổ, mà cầu thì biết bao giờ cho hết, cái cầu ngày hôm sau lớn hơn cái cầu ngày hôm trước, vì nhân dục đang được chăm sóc và nuôi cho lớn lên. Cầu  càng lớn, thì  bất đắc  cũng sẽ tăng theo. Nhu cầu lớn, khát khao nhiều mà không được làm thỏa mãn, không thể thỏa mãn dẫn tới thái độ thù ghét, hằn học với đời, với người. Ta nào có kém gì nó tại sao nó sướng thế còn ta thì không thể. Những quảng cáo vẫy gọi sự sung sướng là một sự hành xác với người nghèo, khiến người nghèo không thể yên với cái nghèo. Nếu như họ không phải là người có một bản lĩnh và chỗ dựa tinh thần, chỗ dựa văn hóa nhất định thì con đường hành ác, đạt tới mục tiêu có được giàu sang và đời sống tiện nghi bằng mọi giá là có thể xảy ra. Đó chính là khởi đầu cho con đường của tội ác. Thế mới thấy cái lý tưởng của ông Lão tử về một xã hội không trao đổi tiền bạc tưởng chừng lẩm cẩm cổ hủ Khốt ta bít mà lại có cái sâu sắc của bậc đại triết gia nhìn thấu nhân tâm. 

Chắc chắn rằng nền kinh tế thị trường có tác dụng vĩ đại đối với đời sống con người. Nhu cầu vật chất của con người được thoả mãn là công lao của nền kinh tế thị trường. Nó đóng góp vĩ đại trong việc đem lại hạnh phúc cho con người từ góc độ vật chất, cũng như nhu cầu tinh thần, cũng tức là đem hạnh phúc cho con người bằng cách  làm thỏa mãn ham muốn của con người. Nhưng có ai dám cam đoan rằng, con người của thế kỷ XXI ít khổ hơn con người của thời kỳ Đức Thích Ca Mâu Ni thấu ngộ được chân lý của khổ đế và dồn trí huệ sáng suốt của mình vào việc diệt khổ, giải thoát khỏi khổ. Cái thời kinh tế thị trường, nhân dục được đào sâu, được chăm sóc, được thỏa mãn, được vẫy gọi,  hình như cái khổ của nhân tâm con người lại càng phong phú hơn, càng đa dạng hơn, càng phức tạp hơn, càng nhiều cung bậc hơn. Nhân dục được đẩy lên, một khi  cá nhân không tự đáp ứng được, xã hội không đáp ứng được, thì lúc đó, chính nó là kẻ thù to lớn tàn phá nhân tâm và xã hội. Nó giống như con quái vật mà người ta nuôi làm thí nghiệm khi sổng ra khỏi vòng kiềm tỏa nhảy ra xã hội gây tội ác tương tự như nhiều bộ phim hành động rùng rợn của Mỹ đã tưởng tượng ra vậy.

Nhân dục bị thổi phồng và khuếch trương, chắc chắn khả năng kiềm tỏa và kiểm soát điều tiết cũng khó khăn hơn nhiều. Con người cũng vì kinh tế thị trường mà sướng hơn nhưng cũng vì thế mà nhiều thất vọng hơn, nhiều sự đổ vỡ hơn. Sự chuyển động của kinh tế thị trường nếu không có luật pháp nghiêm minh và cả sự điều tiết mang tính tôn giáo hữu hiệu, sự giáo dục về đạo đức xã hội được đẩy mạnh thì thảm họa đối với nhân tâm con người thực là khôn lường.
Thời mà người ta có thể  giữ tâm an lạc trong cái nghèo đã qua lâu rồi và thời người ta khổ sở trong cả cái giàu lẫn cái nghèo đang tới. Chỉ có bậc trí giả biết tự điều tiết cho nhân tâm mình, biết tri túc và trau dồi những tố chất văn hóa cần thiết, người ta mới có thể giữ cho mình một chữ “tại” ( tự tại) được.

Nhân tâm duy nguy

Hà Nội tháng 9/2011

Saturday, September 03, 2011

BÁN ĐỒ NHI PHẾ (nửa đường đứt gánh)



Trước khi bước vào một hành trình lâu dài  gian khổ, nhất là thực hiện một lý tưởng nào đó,  người ta thường có mấy loại thái độ:
- Thứ nhất, cảm thấy mong muốn được đi, được chinh phục, được dấn thân, bất chấp nguy nan, tự tin vào sức của mình, thấy không gì cản trở được khi mà mình đã có niềm tin, ý chí và năng lực.
- Thứ hai, vẫn có thể  đi vào đường ấy, nhưng tự mình thấy băn khoăn, thấy mình không đủ sức, thấy mình không đủ can đảm, thấy đường xa dặm thẳm phía trước mà toát mồ hôi. Thích thì vẫn thích nhưng đi mà lòng còn đầy phân vân.
Với loại thứ nhất có hai khả năng diễn ra, có kẻ giữa đường đổi thay thoái chí mà bỏ dở và có kẻ tới đích vẻ vang. Còn đối với loại thứ hai, chắc chắn họ không thể tới đích mong muốn. Loại thứ hai này người ta gọi là bán đồ nhi phế( nửa đường đứt gánh), sự đứt gánh giữa chừng của họ có thể nhìn thấy được từ trước khi họ hành động. Người mà trước khi bước vào hành trình mà đã thấy mình không đủ sức để tới đích, điều đó có nghĩa  là họ đã tự đặt ra giới hạn cho mình.
Con đường xa dặm thẳm ấy, đối với người muốn làm giàu, muốn tới đỉnh cao của khoa học, muốn thực hiện một lý tưởng nhân văn, muốn dựng một lâu đài của tri thức, muốn thực hiện một lý tưởng mang tính tôn giáo…cũng đều giống nhau.
Ngẫm câu :
Nam nhi tự hữu xung thiên chí,
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”
của đại lão hòa thượng Quảng Nghiêm đời Lý  thì thấy người tu Thiền cũng phải hùng tâm tráng chí biết bao mới có thể  tự mình chứng ngộ mà tự giải thoát được cho mình.
Có những sinh viên nói với thầy rằng: thầy ơi, “đạo” của thầy em thấy hay lắm, thích lắm, nhưng mà chắc em không thể đủ sức để theo.
Có em thì than thở rằng, em cũng thích theo đuổi lý tưởng cao viễn, muốn lao vào con đường khoa học, con đường nghiên cứu để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và hy vọng đóng góp cho đời chút ít, nhưng em phải lo nhiều chuyện của cuộc sống cơm áo…
Có người thấy thầy đòi hỏi phải làm bài vở cho tốt hơn thì nói, thầy ơi, năng lực của em chỉ có thế, em chỉ viết được có thế thôi, thầy thông cảm, hay thầy hạ bớt yêu cầu đi, bài này em chỉ cốt cho xong thôi, em sẽ cố gắng lâu dài nữa…
Thường thì người bỏ cuộc luôn tìm được lý do hợp lý đủ sức thuyêt phục, bao biện hoặc an ủi được chính mình.

Sunday, August 28, 2011

GIẶC BẨN



 Người ta thường gọi những mối nguy cơ to lớn đối với dân tộc là GIẶC. Trong lịch sử Việt Nam, khái niệm giặc thường là để chỉ những lực lượng uy hiếp từ bên ngoài, đe dọa sự tồn vong của dân tộc, sự tồn tại của giống nòi. Năm 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh để nhấn mạnh những nguy cơ khác đe dọa sự tồn tại của dân tộc, ngoài giặc ngoại xâm, Cụ còn coi đóidốt cũng là những loại giặc,  “ giặc đói  và giặc dốt”, coi diệt các loại giặc này cũng cấp bách và hệ trọng không kém gì chống giặc ngoại xâm.
Ở thời điểm năm 2011 này, Việt Nam đang đứng trước một loại giặc khác cũng cực kỳ nguy hiểm, đó là GIẶC BẨN. Với những gì quan sát từ thực tế, từ các phương tiện thông tin đại chúng, ta đang thấy giặc bẩn hoành hành khắp nơi. Nó len lỏi vào tận thôn cùng xóm vắng, can dự vào cuộc sống của từng người. Nó có trong từng miếng ăn, ngụm nước uống, từng hơi thở. Nó ẩn hiện khắp nơi, có lúc nhìn thấy, ngửi thấy, cảm thấy. Nhưng cũng có chỗ có lúc phải dùng kính hiển vi mới tìm ra được.
 Nguồn nước bị nhiễm bẩn, nước thải công nghiệp đẩy tràn ra các dòng sông, thấm xuống lòng đất. Những khu vực khai mỏ gây ô nhiễm cho từng vùng rộng lớn.  Sản xuất nông nghiệp bị thực hiện theo quá trình bẩn trầm trọng. Người ta không còn nhổ cỏ như xưa mà dùng thuốc diệt cỏ để bảo vệ ngô và lúa. Những thức ăn tăng trọng dùng bừa bãi cho động vật, thuốc bảo vệ thực vật dùng vô tội vạ. Câu chuyện chè bẩn và dầu ăn thu hồi từ dưới cống khiến người ta không còn muốn ăn và uống một thứ gì nữa. Nhưng vẫn cứ phải ăn, vẫn cứ phải uống.
Bên lề những con đường quốc lộ, hay vào trong những lối xóm, đầu làng cuối phố, chỗ nào cũng thấy rác thải  đổ, rác tràn ngập, túi nilong bay trắng xóa khắp mọi nơi. Giữa cánh đồng lúa xanh mướt thơ mộng thỉnh thoảng lại mọc lên vài đống rác to như đống núi.
Vào mỗi buổi sáng, nếu ai đi trên con những con đường vào thủ đô, dẫu là đường Khuất Duy Tiến, Hồ Tùng Mậu, Phạm Hùng, hay Nguyễn Trãi … đều sẽ thấy dòng người đông nghìn nghịt di chuyển trong làn bụi như sương mù thành Luân Đôn. Cát đất quất vào mặt rát cả da, không khí đặc quánh bụi khiến người ta không muốn hít vào nữa, nhưng vẫn cứ phải hít vào.
Thỉnh thoảng xem ti vi lại thấy nói có những làng đàn ông chết gần hết vì bệnh ung thư, có những làng sống chung với ruồi muỗi và mùi ô nhiễm, có làng không biết uống bằng nước gì…
 Con dân đất Việt thực sự đang bị đầu độc, đầu độc lẫn nhau, tự đầu độc mình. Người nông dân sản xuất rau bẩn bán, để dành một đám sạch để gia đình mình ăn và lấy thế làm yên tâm. Người sản xuất nước uống pha hóa chất độc hại bán cho kẻ khác còn mình không uống là được. Một điều đơn giản mà chắc những người này họ cũng đều biết, đó là họ dành cái sạch để ăn, bán cái bẩn cho người khác, nhưng họ hàng ngày cũng đang tiêu thụ rất nhiều thứ do người khác sản xuất. Cái lợi đang kéo họ đi theo con đường của tội ác đối với cộng đồng và họ đã bất chấp tất  cả.  Luật pháp không nghiêm và  sự xử lý không kịp thời, không ráo riết từ những lực lượng quản lý là một nguyên nhân dẫn đến việc ô nhiễm môi trường sống. Tồn tại và phát triển,  so với phát triển để phát triển và phát triển bất chấp mọi thứ thì tồn tại phải xem là số một. Phát triển bền vững không nên chỉ là một khẩu hiệu.
Giặc ngoại xâm người ta dễ dàng nhận thấy. Tình yêu tổ quốc, yêu giống nòi khiến người ta dễ dàng và nhiệt thành bày tỏ tình cảm của mình và sẵn sàng hành động vì tổ quốc. Giặc bẩn đang hoành hành thì người ta chỉ biết thở than, mà không biết hành động một cách quyết liệt trên quy mô toàn xã hội để chống lại nó. Không thành một dư luận xã hội rộng lớn, quyết liệt để chống giặc bẩn, giống nòi người Việt đang bị hủy hoại, đang bị thui chột, đang bị tiêu diệt từng ngày. Sức hủy hoại của loại giặc này có thể lớn không kém, và ảnh hưởng còn có thể  lâu dài hơn cả bất kỳ loại giặc nào khác.
                             ( Nhất nhật phúc thống hữu cảm)

Sunday, July 10, 2011

KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN: TỪ THỰC TIỄN XÃ HỘI TỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC


Sau khi con số thống kê từ đợt thu hồ sơ tuyển sinh vào các trường đại học cao đẳng trong cả nước được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, tháng 5 vừa qua, người ta bắt đầu chú ý và thảo luận nhiều về vấn đề suy giảm số lượng thí sinh thi vào các khối C và D nói riêng và thi vào khối ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung. Có những trường phổ thông ở Hà Nội, trong số trên 2000 hồ sơ đăng ký dự thi đại học chỉ có 02 hồ sơ thi khối C. Những con số này đã thực sự gây sốc cho dư luận.
Sự suy giảm này thực ra đã băt đầu từ nhiều năm nay. Trường hợp của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dẫu đứng trong số các trường khá dễ dàng trong tuyển sinh và điểm tuyển đầu vào thuộc loại nhóm cao, nhưng bình quân mỗi năm số thí sinh thi khối C cũng giảm khoảng 10%, tính trong vòng 5 năm trở lại đây. Sự sụt giảm này là có hệ thống, là một xu hướng trong thực tế chứ không phải hiện tượng bất thường, nhất thời. Theo tôi vấn đề này có tính tất yếu do rất nhiều nguyên nhân. 
Như trên đã nói, việc học sinh phổ thông ít chọn thi khối C, D cũng có nghĩa là số người lựa chọn nghành nghề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội  nhân văn giảm. Người ta dễ nhìn nó là vấn đề de dọa nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực thuộc khối ngành nghề này. Đó là sự thực, nhưng vấn đề cần nhìn nhận  một cách sâu xa hơn và theo hướng đó chúng ta thấy vấn đề có phần nghiêm trọng hơn những gì mà người ta thảo luận sôi nổi trong mấy tuần nay. 
Sau mấy chục năm đổi mới, sự triển khai chuyển đổi nền kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường đã đạt được những thành tựu lớn, bộ mặt xã hội đã có rất nhiều sự thay đổi. Nhưng đồng thời một sự thay đổi sâu sắc hơn, to lớn hơn đối với con người và xã hội cũng đã diễn ra theo, đó là sự thay đổi hệ giá trị, các quan niệm giá trị với ý nghĩa là cái lõi của nền văn hóa. Giá trị tinh thần mà các lĩnh vực thẩm mỹ, nghệ thuật, văn chương, lịch sử, triết học mang tới cho con người, tạo ra sự thỏa mãn tinh thần  con người, gắn kết và điều hòa xã hội bị suy giảm. Tâm lý xã hội đề cao vấn đề lợi ích, sống thực tế, thiết thực thậm chí là thực dụng hơn.  Đây là kết quả tất yếu của chuyển đổi nền kinh tế, đổi mới, phát triển kinh tế, nhưng những vấn đề xã hội, vấn đề con người chưa được chú ý đúng mức. Chưa chú ý đứng mức thì chưa có chính sách phù hợp và những  giải pháp để điều chỉnh cho phù hợp.  Nó là một nguy cơ nhân văn, nguy cơ văn hóa nguy cơ đối với  con người và xã hội nói chung.
Học sinh ngày nay chú ý và theo đuổi các ngành như công nghệ, kỹ thuật,  kinh tế, tài chính, ngân hàng… nhiều hơn bởi cơ hội việc làm lớn hơn, thu nhập cao hơn. Cũng có nghĩa là người Việt bây giờ, đặc biệt là giới trẻ đặt vấn đề lợi ích lên cao hơn, thực dụng hơn. Có nhiều người cho rằng, sự tăng trưởng kinh tế trong những năm qua diễn ra quá mạnh mẽ, nó cần nguồn nhân lực lớn, tạo thành cơn lốc xoáy cuốn nguồn nhân lực vào đó, làm lu mờ các lĩnh vực xã hội và nhân văn khác. Theo tôi điều này cũng có một phần đúng, nhưng nó không phải là quy luật thông thường của các quốc gia trong quá trình phát triển. Kinh tế phát triển, đời sống con người nâng cao thì các lĩnh vực xã hội, nhân văn, nghệ thuật cũng đương nhiên phải có thêm sức mạnh để phát triển  chứ không thể vì thế mà lụi tàn. Sự phát triển nền kinh tế mà tạo ra sự khủng hoảng về xã hội và nhân văn như vậy là sự phát triển không bình thường. Phải chăng những người  làm kinh tế chưa thực nhận thức đúng về phương pháp phát triển kinh tế một cách toàn diện? Phải chăng các nhà  quản trị kinh doanh chưa nhìn thấy sức mạnh kinh tế từ chính các hoạt động xã hội nhân văn? Trong nền kinh tế tri thức như hiện nay,  các sản phẩm bán ra trên thị trường, hàm lượng trí tuệ xã hội nhân văn ngày càng lớn. Từ  thẩm mỹ, mẫu mã, tâm lý tiêu dùng, các lĩnh vực truyền thông khác  đều hết sức quan trọng. Đó là chưa kể tới  khoa học quản lý điều hành sản xuất, quan hệ doanh nghiệp, phát triển nhân lực, quan hệ khách hàng, tinh thần người sản xuất, hoạt động quảng bá doanh nghiệp… đều thuộc lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn. Các lĩnh vực dịch vụ xã hội, các ngành công nghiệp giải trí thực sự là ngành kinh tế mũi nhọm đem lại nhiều tiền bạc chẳng kém các lĩnh vực công nghệ cao khác tại nhiều quốc gia trên thế giới. Như vậy  sự suy giảm sức thu hút của các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn vừa là dấu hiệu của sự khủng hoảng hệ giá trị, khủng hoảng nhân văn, đồng thời cũng cho thấy chính sự phát triển kinh tế có vấn đề chưa hợp lý.
Vấn đề số thí sinh thi vào các ngành xã hội nhân văn giảm mạnh sẽ ảnh hưởng tới cơ cấu nguồn nhân lực trong xã hội, đó là rõ ràng, nhưng  đó mới chỉ là một phần của nguy cơ. Vấn đề nghiêm trọng hơn  lại ở chỗ, trong số ngày càng ít đi  số thí sinh thi các ngành khoa học xã hội và nhân văn đó, số thực sự có tư chất tốt, học lực xuất sắc lại rất ít coi các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn là đối tượng đam mê.  Các lĩnh vực xã hội nhân văn có thể không cần số lượng nhiều như nhân lực kỹ thuật, công nghệ, tài chính ngân hàng… nhưng lại cần những người rất giỏi, chẳng hạn như triêt học, khảo cổ, tâm lý, nghệ thuật học, chính trị học….Không có người giỏi thi vào chúng ta sẽ thiếu chuyên gia trong các lĩnh vực này. Sự điều chỉnh và định hướng cho xã hội lệ thuộc rất nhiều vào lực lượng trí thức này. Tôi thấy dư luận mới chỉ quan tâm tới ít người thi mà còn chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề  ít người giỏi thi.
Điều hệ trọng nữa cũng cần phân tích thêm là, trong sự suy giảm thí sinh thi khối C, D, tình hình có khác nhau giữa các ngành. Nhiều ngành xã hội như luật học, kinh tế, quản trị kinh doanh, ngoại ngữ, báo chí, truyền thông… vẫn thu hút khá nhiều thí sinh thi, nhiều ngành còn tăng hơn cả năm trước. Số ngành bị giảm mạnh số thí sinh thi lại là những ngành khoa học cơ bản, những ngành mà vai trò của chúng có tác động rất lớn tới  đời sống tinh thần xã hội, chẳng hạn các ngành triết học, nhân học, ngôn ngữ, thông tin thư viện, lịch sử, văn học… Như vậy cũng có nghĩa là  sự sụt giảm của khối xã hội và nhân văn cần nhìn nhận đối với từng ngành cụ thể và khi tìm giải pháp cũng cần đề ra những giải pháp khác nhau cho từng ngành, hay nhóm các ngành.
Một số ý kiến đã bày tỏ chú ý nhiều tới  việc hãy có chính sách ưu tiên, khuyến khích, ưu đãi, chăm lo cho các lĩnh vực này, tới người học, người nghiên cứu, tới đãi ngộ trong lao động, nghề nghiệp… Tôi nghĩ hướng giải pháp như vậy cần thiết, nhưng mới chỉ đúng một phần. Hướng này chủ yếu cho các ngành cơ bản, có liên quan tới chiến lược và lợi ích quốc gia ( vấn đề này  không chỉ thuộc khối xã hội nhân văn mà ở khối khoa học tự nhiên cũng gặp) thì cần có đầu tư lớn. Những ngành này không những không thu học phí mà còn cần cấp học bổng, cần đầu tư mạnh. Tuy nhiên đó vẫn chỉ là một phần của giải pháp, nó không căn bản  và lâu dài. Người ta dẫu được miễn học phí, được ưu tiên, nhưng nghề nghiệp sau này không đem lại thu nhập tốt và cơ hội phát triển tốt thì người ta vẫn không theo học và làm việc tại các ngành đó.
Để có được sự thay đổi mang tính gốc rễ, cần có một giải pháp tổng thể, có hệ thống. Cần phải có điều tiết vĩ mô trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Cần phải có những chính sách, những biện pháp để đối phó uốn nắn sự thay đổi trong định hướng giá trị của xã hội theo hướng lệch lạc.
Tôi cũng đã tham gia nhiều cuộc tư vấn tuyển sinh cho học sinh phổ thông chuẩn bị  chọn trường để thi đại học, câu hỏi mà các em thường dùng nhất là nghề này nghề khác có dễ tìm việc không, thu nhập có cao không, thi có dễ đỗ không, mà hầu như không có ai hỏi rằng, em như vậy như vậy có phù hợp với nghề ấy không,  nghề nào thì phát huy năng lực của em tốt nhất. Lại càng vắng bóng loại câu hỏi rằng nghề nào sẽ giúp em sống tốt nhất, có thể giúp đời nhiều nhất. Cái từ cửa miệng “  cống hiến” đã bị người ta dùng quá nhiều trong các thập kỷ về trước tới mức mòn hết cả nghĩa đi, thậm chí còn đang chuyển sang nghĩa trào phúng. Điều chỉnh hệ thống quan niệm giá trị,  cho thế hệ trẻ là một giải pháp vĩ mô, giải pháp căn bản.
Về phía những người hoạt động trong  nền kinh tế, quản trị kinh doanh một cách khôn ngoan cần tìm lấy sức mạnh và sự góp mặt của các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Mặt khác, những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng cần phải điều chỉnh chính mình để thích nghi với sự thay đổi của đời sống xã hội, của kinh tế và văn hóa. Nhiều lĩnh vực đã hàn lâm thì vẫn phải hàn lâm cho đến nơi đến chốn, nhưng vẫn phải chú ý tới nhu cầu xã hội, giai quyết các vấn đề xã hội. Những ngành ứng dụng thì lại càng phải tăng tính thực hành, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, gắn bó mật thiết lĩnh vực của mình với đời sống kinh tế của đất nước. Một đất nước phát triển thực sự, sẽ không có sự phân biệt rạch ròi đâu là các lĩnh vực kinh tế, đâu là văn hóa. Về bản chất chúng là một.
Một số yếu tố có tính kỹ thuật cũng cần chú ý, chủ yếu là công việc của hệ thống giáo dục. Nên bỏ phân ban ở bậc học phổ thông  càng sớm càng tốt. Việc phân ban ở phổ thông không giải quyết được  gì về mặt định hướng nghề nghiệp. Phổ thông cần phân luồng mà không nên phân ban. Phân luồng xem số nào nên theo học nghề, trung cấp, nhóm nào có thể học lên đại học. Không nên phân ban A,B,C,D…. vì ngay cả các ban này cũng chưa  phải là những tri thức thực sự cần thiết cho nghề nghiệp sẽ chọn. Học sinh chưa hiểu nghề mà đăng ký học theo ban, sau khi học rồi mới tìm hiểu nghề thì việc chọn nghề đã bị hạn định từ lúc chưa hiểu về nó mất rồi. Việc phân ban sẽ tạo ra sự học lệch lạc, phát triển không cân đối, nó đi ngược lại với tinh thần giáo dục con người phát triển toàn diện. Mặt khác, phân ban và thi theo khối là không phù hợp với việc chọn người của các trường đại học và các ngành nghề vốn dĩ hết sức phong phú, đa dạng. Nó vừa không đúng nhu cầu tuyển sinh, vừa thiếu vừa thừa. Theo tôi, nên bỏ phân ban ở bậc phổ thông và thay đổi toàn diện cách tuyển sinh đại học. Tất cả thí sinh muốn vào học bậc đại học đều cần phải qua kỳ thi tiếng Việt ( tiếng Việt chứ không phải văn học) và một môn khoa học tổng hợp. Những môn thi loại này nhằm kiểm tra tri thức, khả năng, của một người cần có để vào học ở bậc đại học. Việc thi các môn này giao cho các cơ cơ quan đánh giá độc lập và học sinh phổ thông có thể tích lũy các chứng chỉ  đó dần dần trong quá trình học phổ thông. Ngoài ra các trường tùy theo tình hình đặc điểm nghề nghiệp của mình mà có một vài môn thi riêng, tự quyết định lấy.
Một việc đương nhiên cần điều chỉnh ngay nữa chính là việc dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn ở bậc phổ thông như văn học, lịch sử, giáo dục công dân…Sách giáo khoa thì chi li, xơ cứng, nó cổ vũ cho học thuộc và công  nghệ học hơn là cảm nhận, thưởng thức, khích lệ tưởng tượng và sáng tạo.
Đối với các trường đại học, việc tư vấn tuyển sinh, thông tin hướng nghiệp cũng cần làm thường xuyên, làm sớm, không nên để dồn vào một vài kỳ cuộc có tính phong trào trước các đợt đăng ký tuyển sinh….
Tóm lại đây là một vấn đề xã hội lớn, cần một giải pháp tổng thể, trong đó có vai trò điều tiết vĩ mô của Chính phủ, vai trò chủ chốt của Bộ giáo dục và Đào tạo của các cơ quan truyền thông đại chúng và  của cả các bậc cha mẹ học sinh và chính các em học sinh.
Và lời cuối cùng mà tôi muốn bày tỏ với các bạn học sinh phổ thông  chính là, dù bất kỳ là ngành nào, khối nào,  chỉ  có thể là người nắm vững tri thức nghề, tốt hơn nữa là thật giỏi, những cơ hội rộng lớn sẽ mở ra trước mắt, còn dù là học nghề nào, mọi cơ hội đều đóng cửa trước những người thụ động,  lười biếng.