Thursday, November 15, 2012

SỨ MỆNH CŨ, NHIỆM VỤ MỚI CỦA NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY HÁN NÔM


1. Truyền thừa văn hóa

Kể từ đầu thế kỷ XX, khi chữ quốc ngữ được chính thức sử dụng thay cho chữ Hán, một cách tự nhiên, công cuộc đại chuyển dịch văn hóa bắt đầu. Sự nghiệp của những người làm công việc sưu tầm, bảo quản, chỉnh lý tư liệu, nghiên cứu, dịch thuật từ văn bản Hán Nôm sang quốc ngữ  cũng một cách tất yếu mang sứ mệnh truyền thừa văn hóa. Những nhà Hán Nôm học đầu thế kỷ XX cũng đồng thời là thế hệ đầu của những người gánh vác sứ mệnh truyền thừa văn hóa đó. Những văn bản phiên dịch Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm... sang chữ Quốc ngữ đăng trên những tờ báo mới ra đời cũng là những sản phẩm mang tính cầu nối văn hóa đầu tiên.

Từ bấy tới nay, đã trải qua 3 đến 4 thế hệ những người thầm lặng làm các công việc kết nối, truyền thừa. Họ là những người vốn là trí thức Nho học, trong buổi gió Á mưa Âu, xót xa cho các giá trị của cha ông, tìm cách truyền đạt cho thế hệ sau, mong giữ gìn văn hóa giống nòi. Họ là những người theo Tây học, nhưng hiểu được công việc tất yếu cần làm. Họ là những người  được đào tạo mới từ Trung Quốc, Liên Xô (trước đây), tiếp thu các lĩnh vực học thuật mới, áp dụng vào nghiên cứu Hán Nôm, ngày càng đẩy Hán Nôm theo hướng một lĩnh vực học thuật chuyên sâu. Và họ là những thế hệ học sinh mới, sinh ra và lớn lên rất xa thời lều chõng của Nho gia, nhưng thấy nghiệp Hán Nôm hấp dẫn và dấn thân. Hơn một thế kỷ và qua nhiều thế hệ, nhưng nhìn chung, công việc của họ đã làm là giống nhau: đó là việc thẩm định, đánh giá, giới thiệu, dịch thuật, xử lý văn bản từ góc độ văn bản học, xây dựng những bộ sách công cụ phục vụ cho việc giải mã văn bản, hướng nghiên cứu theo góc độ văn tự, ngữ nghĩa, cấu trúc chữ nghĩa, lịch sử văn tự và lịch sử tiếng Việt... dần xây dựng một ngành khoa học riêng với việc giải mã và phát huy các giá trị của văn bản Hán Nôm làm nhiệm vụ học thuật. Nó cũng là công việc nhằm thực thi sứ mệnh truyền thừa văn hóa. Theo trình tự thời gian, nó là sứ mệnh cũ, nhưng lại luôn luôn mới.  

Cho tới nay, công việc sưu tầm văn bản đã đi được những bước quan trọng nhất. Hiện chỉ còn là bổ sung, phát hiện thêm số tư liệu mới không còn nhiều so với những gì đã có, tìm kiếm tư liệu từ nước ngoài... Các tác phẩm quan trọng nhất đã có một vài bản dịch khác nhau, đặc biệt là các bộ quốc sử. Các hướng tiếp cận từ góc độ văn tự học, văn bản học... cũng đã đi được những bước đi căn bản, giờ chỉ còn là vấn đề triển khai cho các nghiên cứu trường hợp cụ thể và làm cho các lý thuyết trở nên nhuần nhuyễn hơn mà thôi. Vậy nhiệm vụ hiện nay của việc nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm là gì? Chúng ta có còn nhiều việc phải làm hay không?

2. Nhiệm vụ mới đang đặt ra

Có thể nói ở thời điểm đầu thế kỷ XXI này, sứ mệnh của ngành nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm vẫn không thay đổi, việc truyền thừa văn hóa vẫn đặt lên vai những người hoạt động trong lĩnh vực này. Khoảng cách thời gian so với thời sử dụng chữ Hán chữ Nôm trong đời sống càng xa, việc nảy sinh rất nhiều vấn đề bất ổn trong nền văn hóa, hệ giá trị và sự định hướng nhân văn, người ta càng cảm nhận thấy những nguy cơ do sự gián cách văn hóa gây ra. Và cũng theo thời gian, sứ mệnh ấy không những không hề giảm đi mà còn gia tăng thêm. Khi đất nước đi vào hội nhập quốc tế, đối thoại và giao lưu quốc tế càng mở rộng, việc thực hiện sứ mệnh càng có phần khó khăn hơn, những đòi hỏi đối với người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm càng nặng nề hơn. Để thực hiện được sứ mệnh ấy, cần nhận diện rõ thêm một số việc cần làm. Xin phác thảo theo sự nhìn nhận chủ quan:

- Hiện nay công việc sưu tầm mang tính bổ sung, công việc bảo quản tư liệu Hán Nôm vẫn là việc hết sức quan trọng, việc này hiện nay khó hơn vì càng thêm thời gian, các tài liệu Hán Nôm lưu giữ trong dân gian càng hỏng nát mất mát thêm. Việc sưu tầm cần nhìn rộng ra thế giới với các quan hệ rộng và khả năng khai thác phù hợp. Kỹ năng, tầm hoạt động trong việc khai thác tìm kiếm tư liệu cũng vì thế mà đặt ra những đòi hỏi cao hơn thời kỳ trước.

- Tất yếu cần những thế hệ bản dịch mới. Hơn một thế kỷ vừa qua, với sự đóng góp của lực lượng nghiên cứu Hán Nôm trên cả nước, rất nhiều văn bản Hán Nôm đã được phiên âm, được dịch sang quốc ngữ và xuất bản. Có thể nói những tác phẩm quan trọng nhất trong các lĩnh vực văn học, sử học, triết học... đều đã có ít nhất một bản dịch. Tuy nhiên nhìn lại các công trình dịch thuật đó có thể thấy, về tổng quan, đó mới là bước đi đầu tiên trong quá trình truyền tải, chuyển giao văn hóa. Do một thời gian khó khăn của kinh tế, của điều kiện xuất bản, của lực lượng dịch thuật và cả quan niệm, việc dịch và xuất bản còn nhiều hạn chế. Ngoài những bộ quốc sử quan trọng được chú ý nhất ra, tình trạng chung là: bản dịch không có chữ Hán chữ Nôm in cùng,  nhiều công trình dịch có tính lược dịch, còn thiếu tài liệu tra cứu chú giải... Nhiều văn bản do văn tự khó đọc, nội dung phức tạp, văn bản phức tạp vẫn còn tạm gác lại. Đó là chưa kể một bộ phận không nhỏ còn chưa có bất kỳ bản dịch nào. Trước nhu cầu của thời đại mới, tiếp tục dịch thuật phần còn lại của kho di sản là việc tất yếu phải làm, việc có thêm những thế hệ bản dịch  mới, bản in mới cũng là điều tất yếu. Để thế giới và thế hệ trẻ của Việt Nam biết tới và tìm hiểu một cách thuận lợi, chính xác các văn bản cổ, công việc cần tiếp tục là: Trên cơ sở tham khảo các bản dịch cũ, cần xác lập những thế hệ bản dịch mới, chú giải tỷ mỷ hơn, đối chiếu dị bản rộng hơn. Cần in nguyên bản dạng ảnh ấn, kèm bản hiệu điểm, bản chế bản điện tử mới, cần dịch tiếng Anh nếu có thể... Chúng ta đều biết, mấy cuốn sách nổi tiếng của Hán văn cổ đại Trung Quốc như Lão Tử, Luận ngữ... đã có tới hàng trăm bản dịch tiếng Anh khác nhau cùng lưu hành trên thế giới và sẽ còn có nhiều bản dịch nữa trong tương lai. Vấn đề của nó chỉ giản dị là, các nhà nghiên cứu đều tỏ ra không thấy thỏa mãn với các bản dịch đã có và muốn tự mình dịch. Nói như thế để thấy rằng, khi lực lượng và các điều kiện cho phép, việc có nhiều thế hệ bản dịch là điều cần thiết, khoa học. Đó là chưa kể tới việc cần tập hợp và xuất bản những bộ sách lớn theo chủ đề, theo lĩnh vực để thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng và phổ biến. Vấn đề là thế hệ sau phải biết đứng trên vai người khổng lồ sao cho chắc để khỏi ngã, cần có sự hợp tác giữa các thế hệ và sự trung thực, khoa học, để có được những bản dịch sau tốt hơn thế hệ bản dịch trước. Lực lượng Hán Nôm cần nhìn về một phía, cùng nhìn vào sứ mệnh chung của ngành. Việc này khi nào mới xong?   

- Công bố tư liệu dạng số hóa và quốc tế hóa việc khai thác tư liệu. Ngoài những tư liệu có tính chất bí mật quốc gia ra, việc giới thiệu rộng rãi các tư liệu Hán Nôm phục vụ cho việc nghiên cứu về Việt Nam là hết sức cần thiết. Nó tạo điều kiện để các học giả thế giới hiểu đúng, hiểu chính xác về Việt Nam. Chỉ có được sự đối thoại văn hóa và học thuật thực sự nếu các tư liệu được giới thiệu và phổ biến một cách rộng rãi. Trong thời đại ngày nay, vấn đề giữ tư liệu cho riêng mình để có thể hơn người khác chỉ vì có thêm tư liệu này hay tư liệu khác là không còn lý do tồn tại và không còn có vai trò đáng kể nữa. Việc số hóa và khai thác thuận lợi các tư liệu cổ là công việc tốt cho sự truyền thừa văn hóa. Quan sát cách làm của các nước Đông Á trong việc giới thiệu rộng rãi tư liệu cổ, cung cấp miễn phí và tìm kiếm dễ dàng, ta sẽ thấy chủ đích văn hóa lớn của họ. Cũng tương tự như vậy, các tư liệu Thiên Chúa giáo hay Phật giáo đang được khai thác miễn phí trên mạng là công cụ truyền bá rộng rãi các tôn giáo và học thuyết nói trên. Việc số hóa tư liệu này cũng là cách để cho việc bảo quản tư liệu trở nên chắc chắn trên quy mô toàn cầu. Việc số hóa cũng giúp ích cho việc tra cứu, thống kê, tìm kiếm, điều này sẽ giảm thời gian cho người nghiên cứu và đem lại những bằng chứng chính xác hơn cho việc nghiên cứu...

- Hoạt động phổ biến giới thiệu cho đại chúng.Tôi vẫn nghĩ rằng đem các giá trị văn hóa truyền thống, những cái hay cái đẹp "ngọc trung thư" phổ biến rộng rãi cho mọi người trong xã hội là việc không kém phần quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm. Đương nhiên việc này không phải chỉ là việc của người trong ngành Hán Nôm, nó còn là việc của nhiều lực lượng khác, tuy nhiên, đem những cách hiểu chính xác và sâu sắc từ người tiếp cận văn bản Hán Nôm tới tận người thưởng thức, người tiếp nhận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngoài một số hoạt động thư pháp ra, việc nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm vẫn thiên về kinh viện, hàn lâm và trong phạm vi hẹp. Kho sách cần mở cửa hơn nữa với học sinh phổ thông, coi đó như một địa chỉ tham quan văn hóa tuyệt vời nhất. Những triển lãm, trưng bày, nói chuyện, giao lưu, thuyết giảng về Hán Nôm cho số đông là hết sức cần thiết. Cần tận khai thác các phương tiện truyền thông hiện đại để phục vụ cho sự nghiệp này. Các giá trị uyên áo tốt đẹp của cổ nhân trong các văn bản cần phải đến với quảng đại quần chúng, cần đi vào đại chúng. Những lớp ngắn hạn, lớp dạy chữ sơ đẳng cần mở rộng phục vụ nhu cầu xã hội. Hiện nay, nhà chùa đang quay lại vai trò văn hóa đa dạng gần với vai trò nó đã từng gánh vác ở thời Lý, Trần, tuy nhiên khung cảnh rất phức tạp và còn rất nhiều điều phải bàn.

- Đổi mới và hội nhập thế giới về phương pháp trong nghiên cứu và giảng dạy. Muốn hoàn thành sứ mệnh truyền thừa văn hóa,  việc đổi mới về phương pháp nghiên cứu, phương pháp tiếp cận văn bản, khai thác văn bản cũng đặt ra gay gắt. Cần phải hội nhập và tiếp thu  các phương pháp nghiên cứu tiên tiến trên thế giới, chuẩn bị nhân lực để cập nhật với những lĩnh vực nghiên cứu mới, trong đó những phương pháp nghiên cứu mang tính liên ngành, nghiên cứu theo hướng sử dụng tối đa ưu thế của công nghệ thông tin ngày được chú trọng. Ngoài ra, những lĩnh vực học thuật mới hình thành tại Đông Á cũng cần được tiếp thu và phổ biến, chẳng hạn nghiên cứu giản bạch học, nghiên cứu so sánh, nghiên cứu theo hướng giải thích học...

3. Công việc cần làm trong lĩnh vực đào tạo

Những nhiệm vụ và đòi hỏi như trên đặt ra những yêu cầu mới cho việc đào tạo Hán Nôm trong nhà trường từ cử nhân tới tiến sĩ. Việc đào tạo cần tạo ra một thế hệ các nhà nghiên cứu Hán Nôm mới trong thời đại toàn cầu hóa, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe hơn, phức tạp hơn trong công việc.

- Một vài mô tả ở trên cho thấy, đó là sự nghiệp lớn, nặng nề và còn rất nhiều việc phải làm. Ngành Hán Nôm cần thu hút được nhiều người giỏi vào học. Đây là việc ai cũng biết là khó, nhưng không thể không làm. Không có nhiều người có tư chất tốt, thậm chí cần năng khiếu sự nghiệp khó có thể phát triển được. Công tác tư vấn tuyển sinh và các chế độ đãi ngộ là hết sức quan trọng.

- Cần đào tạo để chuẩn bị nhân lực  cho việc giải mã những văn bản khó, chẳng hạn văn bản chữ thảo. Không thể đọc loại văn bản này mà không biết viết chữ thảo một cách điêu luyện. Cử người đi học tại các nước Đông Á là việc tốt nhất để giải quyết vấn đề này.

- Để có thể có những thế hệ bản dịch mới, năng lực dịch và giải mã văn bản thế hệ sau phải cao hơn. Điều này rất khó trong tình hình hiện nay nhưng tất yếu phải thế. Nó là nhiệm vụ nặng nề đặt ra cho những người làm công tác đào tạo nhân lực, là trách nhiệm của thế hệ các nhà Hán Nôm học cao niên đối với thế hệ sau.

- Cần có những điều kiện tốt để phục vụ cho công tác đào tạo, trong đó điều kiện tư liệu, thiết bị hiện đại, phương pháp tiên tiến, gắn liền đào tạo với nghiên cứu, đưa sinh viên tham gia vào công việc nghiên cứu từ rất sớm là hướng đi cần thiết. Phải tận dụng được những cơ hội thời đại đem lại, về sách công cụ, sách tra cứu, mạng internet để phục vụ cho việc đào tạo.

- Cần trang bị cho sinh viên Hán Nôm các tri thức liên ngành. Sinh viên Hán Nôm cần có những khả năng tự trang bị kiến thức mang tính tích lũy gia tăng, tự tích lũy để đối phó với thời đại bùng nổ thông tin và tri thức ngày càng gia tăng. Cần phát triển các năng lực đa dạng, những kỹ năng mà những người nghiên cứu cổ học trên toàn thế giới cần có.  Đối với sinh viên và học viên sau đại học, năng lực ngoại ngữ và việc sử dụng công nghệ thông tin, kỹ năng tìm kiếm tư liệu, kỹ năng điền dã, tiếp cận và xử lý văn bản một cách chủ động là hết sức cần thiết. Đối thoại và giao lưu quốc tế trong nghiên cứu Hán Nôm học là việc thế hệ nghiên cứu mới phải thực hiện được một cách tự tin. Sinh viên Hán Nôm cũng cần là những người hoạt động thực tiễn, những người biết cách hoạt động phổ biến tuyên truyền văn hóa. Họ không thể chỉ là những "mọt sách", mà còn cần là những nhà hoạt động xã hội.

- Tất cả những đòi hỏi trên sẽ không thể đáp ứng được nếu trong đào tạo chúng ta không tạo ra được những người đam mê nghề nghiệp, có ý thức trân trọng cao nhất đối với di sản Hán Nôm của cha ông. Không gì có thể thay thế được việc tự nhiệm gánh vác sứ mệnh truyền thừa văn hóa, sứ mệnh không mới nhưng cần những người mới để gánh vác. Thế hệ đi trước cần truyền nhiệt huyết và tầm nhìn cho thế hệ kế tiếp. Điều này có thể còn quan trọng hơn cả việc rèn kỹ năng và cung cấp kiến thức.

( Bài viết Hội thảo kỷ niệm 40 năm thành lập ngành Hán Nôm, khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG HN)

 Nguyễn Kim Sơn

Tuesday, October 09, 2012

Tầm nhìn toàn cầu trong việc đổi mới giáo dục và đào tạo Việt Nam



Mấy hôm nay phương tiện thông tin đại chúng nói nhiều về đổi mới giáo dục đào tạo, ngẫm ra cũng là việc của mình nên góp vài dòng.

Không thể phủ nhận giáo dục đào tạo hiện đang có những việc không ai không thấy “chướng tai gai mắt”. Có quá nhiều vấn đề cần đến một cuộc điều chỉnh lớn. Tuy nhiên nên có cách nhìn khách quan hơn đối với thực trạng yếu kém bất cập hiện nay của giáo dục và đào tạo Việt Nam. Trong khi chúng ta đặt kỳ vọng quá lớn vào sự đổi mới giáo dục đào tạo thì những điều kiện để thực hiện cho sự đổi mới lại hết sức hạn chế. Giáo dục đào tạo phải chịu sự tác động lớn từ các nhân tố xã hội khác ngoài phạm vi giải quyết của giáo dục đào tạo. Ở đây , người ta công bố  kết quả điều tra đối với 500 giáo viên và cho thấy quá 50% người trả lời: nếu được chọn lại nghề nghiệp họ sẽ không chọn nghề nhà giáo. Về kết quả điều tra này, tôi muốn bình luận thêm. Từ trước tới nay, nhà giáo vốn vẫn nghèo (thu nhập thấp), nhưng trước đây thì họ có thể yên với cái nghèo để theo nghề, nhưng hiện giờ trong tình trạng kinh tế thị trường len lỏi tác động khắp nơi, họ không yên với cái nghèo được nữa. Đây là sự điều chỉnh hệ giá trị trong toàn xã hội. Những người trả lời không chọn lại nghề nhà giáo không có nghĩa tất cả số đó không yêu nghề và cũng không nên đồng nhất sự lựa chọn đó với sự "hối hận". Nhà giáo cũng là con người, họ không phải siêu nhân. Đó là chưa kể tới việc kinh tế xã hội phát triển, nhiều nghề mới xuất hiện, cơ hội lựa chọn nghề nghiệp rộng lớn, người ta có thể nghĩ về một công việc phù hợp hơn với mình cũng là chuyện bình thường.

Từ khi mở cửa hội nhập thế giới, chúng ta có cơ hội so sánh và nhìn lại nền giáo dục đào tạo nước mình, những điểm yếu kém vì thế trở nên rõ ràng hơn.  

Xu hướng du học ngày càng phát triển, nhưng chúng ta không nên xem việc có nhiều người đi du học là một minh chứng cho việc giáo dục và đào tạo nước nhà yếu kém. Có một phần nhỏ nguyên nhân chứ không phải là toàn bộ. Các nước châu Á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ... đều có các trường đại học lọt vào TOP 100 của thế giới, nhưng hiện nay hàng năm họ vẫn có tới cả triệu người rùng rùng sang châu Âu, châu Mỹ để du học. Và ngược lại, hàng năm cũng có rất nhiều sinh viên Âu-Mỹ tìm sang châu Á du học. Đó là vì cơ hội học tập, môi trường và phạm vi học tập đang điều chỉnh trên quy mô toàn cầu, người ta có nhiều cơ hội hơn để tìm kiếm và lựa chọn chỗ học tập phù hợp với khả năng và lĩnh vực chuyên môn của mình

Toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, một "thế giới phẳng" trong tầm liên hệ đang hình thành. Nhu cầu cần liên thông, chia sẻ, hợp tác của nhân loại ngày càng lớn. Lĩnh vực giáo dục cũng đang toàn cầu hóa mạnh. Có những trường đại học mang tính toàn cầu, len lỏi tới cả các quốc gia trước đây vốn ít hội nhập. Giáo dục đại học vươn tới tận thôn cùng xóm vắng qua mạng internet. Hiện có quá nhiều vấn đề chung mà nhân loại cùng phải chung tay giải quyết mà trước tiên là thông qua giáo dục. Như vậy nền giáo dục cần hướng tới những mục tiêu chung của nhân loại để điều chỉnh chứ không chỉ là vấn đề của riêng một cộng đồng nhỏ hẹp nào

Giáo dục và đào tạo cần đổi mới thường xuyên. Đổi mới là một tất yếu. Các đại học lớn trên thế giới phải thay đổi từng ngày để vươn lên theo kịp thời đại, để có thể cạnh tranh với các trường đại học khác. Điều đó cũng giống như việc đổi mới công nghệ trong lĩnh vực chế tạo. Kể từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra trên quy mô toàn cầu từ năm 2007 tới nay, giáo dục đào tạo cũng đang tìm đường hướng để điều chỉnh trên quy mô lớn. Triết lý, phương pháp, nội dung, công nghệ, quản lý giáo dục đào tạo đang có những chuyển biến từng ngày. Giáo dục Việt Nam  là một bộ phận của giáo dục thế giới. Việc đổi mới giáo dục của Việt Nam không thể chỉ là vì tự bản thân nó có nhiều vấn đề. Đổi mới giáo dục và đào tạo là một tất yếu khách quan, không nên nhìn nó chỉ là việc làm có tính đột xuất để đối phó với vấn đề này hay vấn đề khác một cách bị động. Chúng ta vì một mục tiêu lớn và chủ động để đổi mới, có cái vì bất cập mà phải đổi mới, nhưng cũng có cả những thứ đang làm tốt vẫn cần đổi mới để tốt hơn nữa, có chỗ chưa nảy sinh vấn đề nhưng vì những mục tiêu xa hơn chúng ta vẫn phải điều chỉnh. Giáo dục Việt Nam cần điều chỉnh để hòa dòng cùng với công cuộc vận động lớn của thế giới. Cần thiết phải phân tích những xu hướng lớn mà giáo dục đào tạo thế giới đang làm để làm. Điều này khiến cho việc đổi mới giáo dục ở Việt Nam có chuẩn để tự điều chỉnh. 

Tuesday, September 11, 2012

HỮU CẦU TẤT KHỔ


Trong Tứ diệu đế  ( bốn chân lý nhiệm màu) để giải thoát, mở đầu là khổ đế ( chân lý về sự phổ biến, tuyệt đối và triệt để của cái khổ). Trong khổ đế mở đầu là  cầu bất đắc khổ , tức là  mong muốn, truy cầu mà không đạt được là một loại khổ. Cái này phổ biến, dễ hiểu, có lẽ không cần chứng minh. Ta mong muốn điều gì mà không đạt được, không thể đạt được, hay không toại nguyện là nguồn của đau khổ và chính nó là khổ. Sự  cầu thật đa dạng, có nhu cầu về cả vật chất, tinh thần,cầu cho cá nhân, cho xã hội, cho chúng sinh... Cầu thực chất cũng là nhân dục, một cách gọi khác của nhân dục. Nhân dục càng lớn, cái khổ càng nhiều. Cái sự được như ý ở đời này có bao nhiêu?

Theo đó, cầu mà đạt được thì sẽ sướng, cầu đắc thì sung sướng, hoan lạc? Chưa chắc. Ngẫm ra, cầu được cũng có thể vẫn khổ. Khi ta theo đuổi điều gì thì mong nó đạt tới, nhưng biết đâu cái đạt được đó lại là nguyên nhân của những cái khổ khác. Mong có cái ô tô, được nó biết đâu lại là nguyên nhân của tai nạn chết người nào đó. Kẻ cầu quan cao chức trọng, biết đâu làm quan lại khổ hơn, mong làm dân mà không được nữa. Người ta đôi khi đạt được rồi, sinh ra thỏa mãn, hết động lực, trống rỗng, lại rơi vào bi kịch khác... Đó là chưa nói tới chuyện, cầu mà đạt được thì cái cầu tiếp theo sẽ to lớn hơn cái cầu trước và là nguyên nhân cho cái khổ lớn hơn. Cho nên bổ sung thêm cho Tứ diệu đế rằng : Cầu đắc diệc khổ ( cầu được cũng khổ).

Phương án của Đạo gia: thiểu tư quả dục, tư tưởng ít, nhân dục ít là cách để hạn chế khổ, điều này có vẻ khả thi. Khổ đã không tránh thì cố gắng làm cho nó bớt bớt đi. Ít cầu  đi thì bớt khổ đi, vì được cũng khổ, không được cũng khổ mà. Nho gia chủ trương điều tiết kiềm chế nhân dục, cho nhân dục khoảng tự do trong khuôn khổ, chỉ thích cái được phép làm thực chất là kiềm chế,  điều tiết cả sự sung sướng và sự khổ, không được sướng quá, không để rơi vào trạng thái khổ quá.  Điều này đối với những người thích hưởng lạc và tự do phóng khoáng thì hẳn là không thích thú gì, nhưng nhìn từ góc độ xã hội và với tính hiệu quả thực tế của nó thì không phải không hữu ích. 

Người xưa theo đạo thượng thừa Thiền, luyện tâm để đạt tới Vô cầu ( không truy cầu theo đuổi bất cứ điều gì để đạt tới an lạc). Cầu bất đắc khổ, cầu đắc diệc khổ,  vô cầu nhi lạc. Vô cầu là đã gần tới tâm không.

Vô cầu là đắc đạo rồi. Nhưng làm thế nào để Vô cầu? Theo đuổi sự vô cầu mà không phù hợp với tâm tính  và sở nguyện của ta thì mong muốn Vô cầu lại thành ra một thứ  cầu  vô cùng khó đạt và có khi đó là nguồn của một cái khổ lớn.  Làm phàm nhân ở đời chắc vẫn phải cầu thôi. Cầu mà đắc đừng lấy thế làm vui quá, cầu bất đắc cũng đừng lấy thế làm khổ quá, tự điều tiết được chút nào tốt chút đó, nhậm vận tùy duyên đành vậy. 

11.9.2012 
Nguyễn Kim Sơn


Thursday, August 23, 2012

TÍNH HỮU ÍCH CỦA CÁI VÔ DỤNG

Phật giáo luận giải về sự khổ rất đa dạng, có tứ khổ, thập khổ, bát khổ, nội khổ, ngoại khổ cho tới bát bách khổ, vạn khổ... Tức là rất khổ tâm luận về khổ. Nhưng trong các luận giải về khổ vô cùng phong phú đó không thấy cái khổ vì hữu dụng, hay hữu ích. Cũng có thể nó nằm trong " ngũ uẩn thịnh khổ".

Lão tử và Trang tử thì lại đặc biệt chú ý tới cái khổ mà nguyên nhân của nó chính từ sự hữu dụng. Các vị đó nhìn sự hữu dụng như là một thứ nguy cơ, một mối nguy hiểm tiềm năng đe dọa kẻ có nó. Con vật nào thịt ngon thì bị người ta lùng bắt và giết. Cao xương hổ tốt cho gân cốt người dùng nên chúng bị săn bắt ráo riết. Sừng tê giác hữu dụng hơn nữa khiến chúng cũng bên bờ vực tuyệt chủng. Hoa dại thơm và đẹp dễ bị người ngắt hái. Tiếng hót hay của chim là nguyên nhân khiến chúng vào lồng, và mật của gấu,  lông của nhím, ngà của voi...đã làm hại chủ nhân của chúng. Kẻ nào chẳng may bị người khác khen là thông minh, giỏi giang có thể lời khen ấy khiến hắn có thêm vô số kẻ thù. Và kẻ lỗi lạc không thể có số phận bình thường. Ai biết cái gì khổ với cái đó. Không biết làm gì, đầu óc ngu si, hưởng trọn thái bình. Cái Vô dụng mới là điều mà Đạo gia sùng thượng, đề cao, coi đó như một thứ đạo. Đạo để biến mình thành vô dụng, biết cách vô dụng.

Cái vô dụng có từ thuyết của Lão tử, Lão tử trọng ngu, trọng vô ích,   phản đối trí tuệ, càng ngu càng tốt. Lão tử cho cái khôn ngoan là biết đặt mình dưới người, đặt mình sau người. Đang ở cao thì mau xuống thấp, đang ở trước biết ẩn ra sau. Không tiến, không lên, không cao, không đại mà thoái, xuống, ẩn, tàng. Nó đều chỉ cái vô dụng. Triết lý vô dụng của Lão tử có gốc từ triết học tự nhiên của ông. Đạo tạo ra mà không dấu vết, cho không kể công, mẫu mực hơn hết mà không tuyên bố về sự mẫu mực đó.

Vô dụng trong thuyết Lão tử là chỉ cái tự nhiên, thuận tự nhiên, hữu dụng được đưa về phạm trù cái nhân vi. Hữu dụng, tranh, cạnh, xảo,... thuộc về nhân vi. Thực ra cái ngu chân chính mà Lão tử đề cao nhất là loại cái ngu là đỉnh cao của trí tuệ, tức bậc trí giả biết cách làm cho mình như ngu " đại trí nhược ngu". Tức cái ngu chủ động, ngu siêu việt trí chứ không phải ngu thuần túy là ngu. Lão tử bằng vô dụng để mong đạt tới cái đại dụng, đó là bảo thân, duy trì sinh mệnh, hài hòa, xã hội không cạnh tranh, ai ai cũng nhường nhịn, không có chiến tranh... từ đó mà thủ tiêu những tai họa đe dọa con người.  

Trang tử đẩy mạnh quan niệm về cái vô dụng trong phương diện triết lý nhân sinh. Con rùa lết cái đuôi nơi ngòi rãnh để hưởng hết tuổi trời là  tượng trưng cho cái vô dụng. Con rùa được người ta mang về để chết khô nơi chốn miếu đường,   trên bàn thờ thần thỉnh thoảng bị người ta lấy một mảnh mai để cúng, bói là biểu tượng cho sự hữu dụng. Cái cây Vu cây Lịch, nhờ phẩm chất vô dụng, gỗ không dùng được vào việc gì, mùi vị thì hôi thối... nên nó được yên và cao mãi tới nghìn dặm. Vô dụng, theo Lão - Trang có cái  đặc biệt hữu ích của nó.

Từ góc nhìn hiện đại, đề cao vô dụng có cái quái gở của nó. Nó là phản tiến bộ, phản giáo dục, phản nhiều thứ.  Nhưng không phải mọi sự quái gở đều vô lý cả. Thực hư thế nào, tùy nghi chiêm nghiệm.
           22.8.2012

Thursday, August 09, 2012

VÀI CHUYỆN TẢN MẠN CÓ LIÊN QUAN TỚI NGƯỜI NHẬT BẢN

Có mấy mẩu chuyện vụn vặt nghe được chỗ này chỗ kia, kể lại để ... mà kể.

1. Tôi có một anh bạn người Nhật, anh ấy là giáo sư của Đại học Tokyo. Chúng tôi có một thời gian cùng làm việc tại một viện nghiên cứu, buổi trưa chúng tôi thường cùng ăn trong nhà bếp. Ai cũng có phần thức ăn mang theo. Ngày nào cũng giống như ngày nào, tôi thấy anh bạn Nhật lấy bọc thức ăn ra từ trong balo. Đó là chiếc khăn trắng buộc chéo hai góc rất cân đối. Anh ấy thường rất thong thả mở chiếc khăn, lấy chiếc hộp gỗ rất vuông, gỗ rất đẹp, trong có nhiều ngăn. Một ngăn đựng cơm và mấy ngăn còn lại đựng thức ăn. Cơm của anh ấy luôn đóng từng miếng vuông như cơm nắm của dân đi cày. Anh ấy có một đôi đũa bằng kim loại, có khớp nối ở giữa có thể gập mở như con dao nhíp. Sau mỗi bữa ăn, anh ấy rửa đồ đạc ngay, rồi lấy giấy lau chúng rất lâu, rất tỉ mỉ gấp chúng lại, sau cho vào hộp, lại gói lại, buộc hai góc cân đối và đẹp như ban đầu. Anh ấy  tập trung vào công việc của bữa ăn như đang tọa thiền. Bữa ăn, các dụng cụ, từng động tác như biểu thị của một loại công nghệ cao.

 2. Một người khác kể lại cho tôi nghe như sau:  Tôi (người kể cho tôi) từng xem một anh bạn người Mỹ đứng in mấy tờ handout cho một lớp sinh viên  do anh ấy dạy học, tôi thấy anh ấy cứ in đi in lại vì phát hiện ra sai chỗ này sai chỗ kia, dù chỉ là một dấu câu bé tí. Tôi bảo, sao không dùng bút chì thêm vào cho nhanh. Anh bạn ấy đáp: "Sinh viên tớ dạy là người Nhật. Tớ phải làm việc với người Nhật."

3. Xe Mercedes của nước Đức lắp ráp tại Nhật Bản giá thành bán cao hơn nhập nguyên chiếc từ chính hãng. Lý do vì người nhật tin vào công nhân Nhật trong quá trình lắp ráp hơn bất kỳ ai.

4. Có một món bánh truyền thống của người Nhật ( không thể nhớ được tên bánh). Món này trước khi ăn nhất định phải tưới nước sốt. Đó là một thứ vừa ngọt vừa chua, có người ăn bánh đó thì thích nhưng riêng cái vị nước sốt thêm vào kia thì không. Người đó yêu cầu đừng cho nước sốt vào, nhưng người bán hàng không bao giờ nghe. Lý do vì phải có nước sốt đó thì mới thành bánh đó, thế mới đúng với thông báo bán hàng. Người mua ( một giáo sư Việt Nam) đành bó tay, vẫn luôn phải mua với cả nước sốt rồi mang ra một chỗ, tìm cách gạt chúng đi trước khi ăn. Cũng có đôi lần rỗi rãi và cộng với nhiệt tình, người bán hàng có giúp đỡ vị giáo sư kia gạt bỏ nước sốt. Nhưng đừng hy vọng lần sau anh ta không cho vào.

Ngày 7.8.2012 trong lúc ngồi rỗi ở sân bay Narita/ Tokyo

Tuesday, June 05, 2012

Lễ chùa ở Đài Loan


Người Đài Loan sùng Phật, điều đó chúng khẩu đã đồng từ. Ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo tới đời sống người Đài Loan có thể nhận thấy một cách sinh động ở sự hiện hữu của các quán ăn chay tại khắp mọi nơi. Tỷ lệ người ăn chay ở đây rất cao (thấy thế nhưng chưa tìm được con số thống kê cụ thể). Công nghệ chế tạo đồ ăn chay của Đài Loan đứng hàng đầu thế giới. Số người đi lễ chùa và tham gia các hoạt động tôn giáo đương nhiên là rất nhiều.

Long Sơn là một ngôi chùa lớn và nổi tiếng ở Đài Bắc. Bản nhân có cơ duyên được lui tới chùa này nhiều lần, tại hầu hết các chuyến đi sang Đài Bắc. Xin có vài lời bình luận và mấy tấm hình để mọi người tham khảo về cách quản lý và đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh của người Đài, để cùng chiêm nghiệm.


Photobucket
Cổng chùa Long Sơn, Đài Bắc
Một ngày bình thường, không phải rằm hay mồng một, nhưng người đi lễ ở đây rất đông. Khói hương nghi ngút, người ta cắm hương ở ngoài trời mà không cắm hương ở trong nội điện. Người lễ cầm hương vái khắp nơi, lầm rầm những điều chỉ có họ và Thần Phật biết. Họ hướng lên không trung mà lễ chứ không chỉ hướng vào phía những pho tượng tôn nghiêm. Hương đốt được phát không cho người lễ và phát với số lượng vừa đủ, không gây ra cảnh khói quá lớn.


Photobucket


Đồ lễ Phật cần qua công đoạn tẩy rửa sạch sẽ trước khi bày lên đĩa. Chùa có khu riêng để thỏa mãn nhu cầu này của người lễ. 

Photobucket
Nơi rửa quả, có dòng chữ nhắc nhở "Xin hãy tiết kiệm nước"

Đồ lễ của người Đài nhìn chung giản dị, chay tịnh, một đĩa hoa, chút quả, bánh trái, không có cảnh đưa lên bàn thờ mọi thứ có thể ăn được, uống được và mua được ngoài chợ. 

Photobucket

Photobucket

Người ta hay dùng những lẵng hoa nhỏ để cúng Phật. Trên lẵng hoa cài những tấm thiếp, ghi tên người cúng lễ và điều mà họ cầu cúng. Đây chính là hình thức viết sớ thời hiện đại, đẹp, lịch sự và tiên tiến. 

Photobucket

Photobucket

Số lễ vật được bày cúng rất nhiều, ban thờ trong nội điện không thể đủ chỗ để bày. Lễ vật được bày ra những dãy bàn rất lớn ngoài sân. Đặt đồ lễ lên các bàn đó là được, không cần chen nhau bẹp ruột để đặt đồ lễ vào trong nhà. Phật nhìn thấu mọi lòng thành. 


Photobucket


Nếu nhìn vào lễ cúng Phật, người ta dễ lầm tưởng người Đài nghèo khổ. Người đến lễ không trọng đồ lễ to, mà trọng ở việc tụng kinh. Xung quanh bảo điện có vô số ghế và chỗ đặt sách để người tới lễ có thể tụng kinh được. Nhiều người vừa lần tràng hạt vừa nhìn như thôi miên vào một chai nước trong để cầu khấn (bản nhân chưa hiểu hết lý do và ý nghĩa).


Photobucket

Photobucket

Photobucket

Người đi lễ cũng thích coi thẻ, xem quẻ để đoán vận. Những đồng âm dương là những mảnh gỗ, tựa như hai miếng hạt điều phóng to, sơn đỏ.

Photobucket


Người lễ sẽ lấy hai mảnh gỗ này, ấp vào lòng bàn tay để truyền tinh thần và điều thỉnh nguyện của mình vào đó, rồi tung xuống đất. Nếu sấp ngửa là đã được thần Phật đồng ý và có thể rút lấy một thẻ tre. Ống đựng thẻ cao tới ngang người. Mỗi thẻ tre dài khoảng 80 cm. 

Photobucket

Photobucket

Không thấy người ta bày tiền phơi phới khắp nơi hay dắt tiền lên tay tượng, mình tượng. Nghe nói người ta công đức tiền chủ yếu thông qua chuyển khoản. Cũng không thấy nhạc cúng xập xình. Không có chuyện lấy nhầm đồ lễ của nhau một cách cố ý. Người đi lễ đông, nhưng không chen lấn nhau. Người già yếu cũng có thể tới đây lễ không sợ chết bẹp do chen lấn hay cướp giật, trộm cắp, chặt chém, môi giới lễ bái.

Phật chỉ có một, nhưng sự lễ Phật thì không như vậy.

Thursday, May 31, 2012

Tự ngã


Trong thời đại cạnh tranh khốc liệt, các cá thể muốn giữ được chỗ đứng của mình trong xã hội, trên nữa muốn phát triển, vươn tới đều phải không ngừng phát triển mình, phải không ngừng vươn lên, không ngừng hoàn thiện mình. Người ta phải nhìn ra xung quanh, xem thiên hạ như thế nào, xem người khác thay đổi và phát triển ra sao, cái nhìn đó nhằm tới sự hiểu người. Nhưng sự hiểu người này, cũng rất dễ gây ra những tác động tiêu cực trong việc phấn đấu của người muốn phát triển mình.

Nhìn người có mấy khả năng xảy ra. Khả năng thứ nhất là ta giống mọi người, mọi người giống ta, mọi người hay ta cũng hay, mọi người dở ta cũng dở, người tiến ta tiến, dàn hàng ngang vui vẻ cả. Khả năng này rất khó xảy ra thực tế. Khả năng thứ hai là ta may, hoặc không may rơi vào một tập thể toàn những thành viên kém hơn ta. Ta buộc phải thành kẻ xuất sắc nhất trong số đó. Khả năng thứ ba cũng do không may hoặc may mắn ta rơi vào một nơi mà ở đó toàn những kẻ hơn ta. Nhìn chỗ nào cũng thấy mình kém họ, thấy ai cũng hơn mình. Khả năng thứ tư là ta tồn tại trong cộng đồng có kẻ hơn mình, có kẻ kém mình, có kẻ học theo mình và có kẻ mình cần học theo.

Trong trường hợp đầu tiêu và cuối cùng, sự ứng xử có lẽ không có gì khó khăn lắm. Vấn đề là ở hai trường hợp còn lại. Làm thế nào để tồn tại cùng những kẻ kém hơn mình mà mình vẫn không tự mãn, không nhụt chí, vẫn có thể tiến bộ? Làm thế nào để trong tập thể mà toàn những kẻ hơn ta, ta vẫn không thấy ngạt thở, không mất tự tin, không thấy mặc cảm, vẫn có thể tìm đường để vươn tới. Lấy gì làm chỗ dựa, làm thước đo? Có lẽ chỉ hướng phản quan tự kỷ bản phận sự vô cầu tha đắc (quay về nhìn nhận chính bản thân mình là việc căn cốt đừng truy tìm và không thể tìm thấy cái mình cần tìn ở nơi ngoài mình) theo tinh thần Phật giáo, hay tự ngã thực hiện theo tinh thần của Nho gia là hữu ích cho các trường hợp này.

Lấy chính mình làm chỗ dựa, lấy mình làm tiêu chuẩn. Muốn biết mình có tiến bộ hay không, không có tiêu chí nào tốt hơn chính mình. Miệt mài học tập, nhưng so với hôm qua không thấy mình khá hơn chút nào thì ấy là đáng lo ngại. Mỗi người tư chất khác nhau nên việc tích lũy kiến thức và tốc độ trưởng thành cũng cần khác nhau. Vấn đề quan trọng là tôi luôn cố gắng, trong sự chậm chạp của mình, tôi thấy tôi đang tiến bộ lên, tôi sẽ yên tâm về sự tiến bộ của mình. Nếu tôi rơi vào chỗ toàn những kẻ kém hơn tôi, tôi vẫn cần không ngừng phấn đấu, người ta khen tôi mặc họ, hôm sau tôi phải tốt hơn tôi ngày hôm qua. Làm được như vậy, môi trường toàn những kẻ kém cỏi không phải là một sự cản trở đối với tôi, nó không khiến tôi dễ thỏa mãn và thoái chí. Nếu tôi rơi vào hoàn cảnh toàn những người hơn tôi, tôi có thể tạm kém họ, nhưng nếu với sự quyết tâm và tốc độ tích lũy không ngừng, tháng sau tốt hơn tháng trước, giỏi lên một cách đều đặn thì cứ như vậy, cứ như vậy, bền bỉ và bền bỉ, một ngày nào đó tôi cũng sẽ trở thành một người như họ. Khi tôi chưa bằng người ta tôi vẫn không thấy hốt hoảng bởi một lẽ tôi đang dần tự thay đổi theo chiều tốt.

Nói như vậy không có nghĩa mình chỉ biết có mình và nhìn mình, đó chỉ là một sự nhấn mạnh. Trong sự cạnh tranh và so sánh, thường thì cái nhìn về phía người khác, sự so sánh với người khác dễ dàng tạo ra những tác động lớn tới mình. Trong mọi trường hợp, nhìn về chính bản thân mình là hết sức quan trọng. Tự ngã thực hiện thực chất là tự đánh giá để có tự tin mà thực hiện, không gì khác.

Cảm thán của một ngày chăm chú nhìn...

Quốc tế thiếu nhi 1.6.2012

Friday, May 18, 2012

Sao mà nhiều thế?


Photobucket
Thoát khổ từ khi chưa nếm mùi khổ (ảnh chụp lại, không rõ nguồn gốc)

Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang các nước Đông Á để lại cho mỗi nước một diện mạo riêng, nói chung chẳng đâu giống đâu. Thái Lan, Lào và Campuchia có xu hướng Phật giáo tiểu thừa. Khung cảnh tự viện với những mái chùa sơn thếp vàng vút cao cùng một số rất ít các pho tượng kích cỡ khổng lồ nằm ngồi đủ các tư thế chiếm phần lớn không gian thờ tự là hình ảnh hay gặp tại các quốc gia Phật giáo này.


Photobucket
Vàng dùng trong kiến trúc Phật giáo

Nhưng thế giới quả là rộng lớn và vẫn tiềm chứa nhiều điều bất ngờ. Ở một số địa phương tại Lào, người ta lại có phong tục, ai muốn cầu khấn Phật điều gì, họ sẽ mua một pho tượng Phật nhỏ (bằng các loại chất liệu khác nhau, chủ yếu là bằng đồng), rồi mang lên chùa đặt vào một vị trí quy định để biểu thị sự sùng kính với Phật và cầu điều mình mong muốn.

Photobucket
Hãy đếm thử

Có những pho tượng chỉ nhỏ bằng ngón tay út, thậm chí còn nhỏ hơn. Điều này khiến cho nhiều ngôi chùa có số lượng tượng Phật lên tới hàng ngàn. Vô số những pho tượng tí xíu vây quanh những pho tượng đồ sộ.

Photobucket
Kỷ lục về số tượng trong một chùa


Cảnh tượng này cũng giống như rừng bát hương hay ảnh người chết được đưa vào ăn mày cửa Phật tại các ngôi chùa miền Bắc Việt Nam.

Luang Prabang 10.5.2012

Bonus:


Photobucket
Nếm thì ngon, lành hay không  chưa biết :)

Photobucket
Vật trang trí nhà cửa

Photobucket
Có thể Lào là nước sản xuất chỉ nhiều nhất thế giới để... buộc vào cổ tay nhau

Photobucket
Dòng Mekong chảy qua nhiều núi nhưng lại ít thác ghềnh


Photobucket
"Hãy chuyển lòng thành kính thành sức mạnh để nâng viên đá này lên ngang mặt 5 lần, điềm lành sẽ tới"
Photobucket
Làm việc ít thôi, để còn múa Lamvong 

Sunday, April 08, 2012

Về bài thơ vịnh Mai của Trần Nhân Tông


Văn học đời Trần chưa xuất hiện nhiều thơ vịnh vật. Văn học Phật giáo có nói tới các đồ vật, sự vật hiện tượng, trăng, nước, hoa cỏ...nhưng đó chưa phải là thơ vịnh vật thực sự tiêu biểu. Có thể nói thơ vịnh vật là sản phẩm của văn chương nhà Nho, nó liên quan tới đặc trưng thẩm mỹ của văn học nhà Nho. Trong bài " Sự đan xen các khuynh hướngthẩm mỹ trong thơ Huyền Quang" đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học, tôi có viết:

[Những bài kiểu như bài vịnh Mai của Trần Nhân Tông là khá hiếm hoi:

Thiết đảm thạch can lăng hiểu tuyết,
Cảo quần luyện thuế nhạ đông phong.
Nhân gian kiệm tố Hán Văn đế,
Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông.

(Gan dạ, sắt đá vượt lên tuyết buổi sớm,
Quần lụa mộc, khăn lụa trắng đón gió đông.
(Như) Hán Văn Đế là người tiết kiệm, mộc mạc trong nhân gian,
(Như) Đường Thái Tông là bậc anh hùng trong thiên hạ)

Bài này rõ ràng có khí khái hơi khác với tinh thần tùy duyên nhậm vận, một loại cảm hứng và một triết lý thiền tiêu biểu và nổi bật trong thơ Trần Nhân Tông, nó thiên về thơ ngôn chí kiểu Nho gia. Bài thơ thể hiện chí hướng muốn có được những phẩm chất hơn người, mong làm nên sự nghiếp đế vương như Hán Văn Đế, Đường Thái Tông. Bài này có thể ví như một bông hoa lạ báo hiệu  sự nảy nở và bắt đầu của loại thơ vịnh vật.]
               
Nhân có người trao đổi về bài thơ này, thấy cần viết thêm đôi dòng.  


Bài này rõ ràng là khẩu khí nhà Nho, và cả khẩu khí đế vương nữa. Vịnh mai  thi nhân thường ca ngợi phẩm chất thanh cao, đẹp đẽ ưu trội, nội lực mạnh mẽ, ngạo tuyết lăng sương mà ưu việt xuất quần. Bông mai trong bài thơ vịnh của Trần Nhân Tông cũng đương đầu với tuyết với gan dạ sắt đá, giản dị thanh nhã  mà đón gió đông. Nhìn từ  hai câu này hoàn toàn thấy nó không khác mấy những bài vịnh Mai khác. Nhưng Mai thường biểu tượng cho khí tiết người sĩ phu quân tử, không chịu sự chi phối của hoàn cảnh. Trần Nhân Tông ca ngợi khí cốt tinh thần, nhưng ở đây lại không phải là cái cao nhã của người quân tử. Ông là một ông vua. Khi vịnh ông nghĩ tới những hình mẫu đế vương khác để ca ngợi và lấy làm mẫu để khuyến miễn. Ông nói tới hoa mai và liên tưởng tới những vị vua mẫu mực. Ông liên tưởng tới  những sự nghiệp lẫy lừng, công trạng hay đáng học của các bậc tiên đế tiên vương. Bài thơ nói tới người kiệm tố, giản dị và một người vua anh hùng, điều đó cũng có thể coi là một liên tưởng và một tỷ dụ về phẩm chất ưu việt của Mai, nhưng dẫu sao thấy nó cũng có phần lỏng lẻo, chưa thực chặt chẽ. Tại sao lại như vậy?  Vì ông không phải thân phận giống như văn nhân sĩ phu. Mối quan tâm của ông cũng không phải là một tinh thần đạo đức như nhà Nho. Như vậy có thể thấy, phần đầu nhắc tới phẩm chất của Mai như một thói quen và phần sau xa dần cấu trúc chặt chẽ và vì vậy cái hồn của loại vịnh Mai không thể hiện hết.


Có thể bởi cả hai lý do: Thứ nhất, Trần Nhân Tông là ông vua tôn sùng các giá trị Phật giáo hơn những giá trị đạo đức nhà Nho; Thứ hai, Trần Nhân Tông đứng ở vị thế ông vua chứ không phải sĩ phu. Cho nên bài thơ vịnh mai nêu trên chỉ chịu ảnh hưởng của thơ vịnh mai như một công thức mà thiếu phần hồn của đạo đức và tinh thần nội thẩm mỹ tương tự như các bài  vịnh vật khác của nho gia. Nhưng về phương diện hình thức, cấu trúc, nó vẫn thể hiện nhiều phương diện của thơ vịnh và của văn chương nhà Nho. Trạng thái tinh thần này biểu hiện trong bài thơ vịnh với một sự tán đồng có phần khá mờ nhạt bình đạm về hình ảnh hai ông vua trong quá khứ, một ông giản dị tiết kiệm (đương nhiên là những phẩm chất của vua Nho giáo) và một ông vua anh hùng. Nhưng ngay cả việc nói tới vị anh hùng cũng không được khí thế cho lắm.   


Một bài thơ vịnh nêu trên cũng cho thấy trạng thái Phật - Nho đan xen trong tư tưởng Trần Nhân Tông, và bài thơ cũng đánh dấu  sự xuất hiện buổi đầu của thơ vịnh vật.