Tuesday, September 11, 2012

HỮU CẦU TẤT KHỔ


Trong Tứ diệu đế  ( bốn chân lý nhiệm màu) để giải thoát, mở đầu là khổ đế ( chân lý về sự phổ biến, tuyệt đối và triệt để của cái khổ). Trong khổ đế mở đầu là  cầu bất đắc khổ , tức là  mong muốn, truy cầu mà không đạt được là một loại khổ. Cái này phổ biến, dễ hiểu, có lẽ không cần chứng minh. Ta mong muốn điều gì mà không đạt được, không thể đạt được, hay không toại nguyện là nguồn của đau khổ và chính nó là khổ. Sự  cầu thật đa dạng, có nhu cầu về cả vật chất, tinh thần,cầu cho cá nhân, cho xã hội, cho chúng sinh... Cầu thực chất cũng là nhân dục, một cách gọi khác của nhân dục. Nhân dục càng lớn, cái khổ càng nhiều. Cái sự được như ý ở đời này có bao nhiêu?

Theo đó, cầu mà đạt được thì sẽ sướng, cầu đắc thì sung sướng, hoan lạc? Chưa chắc. Ngẫm ra, cầu được cũng có thể vẫn khổ. Khi ta theo đuổi điều gì thì mong nó đạt tới, nhưng biết đâu cái đạt được đó lại là nguyên nhân của những cái khổ khác. Mong có cái ô tô, được nó biết đâu lại là nguyên nhân của tai nạn chết người nào đó. Kẻ cầu quan cao chức trọng, biết đâu làm quan lại khổ hơn, mong làm dân mà không được nữa. Người ta đôi khi đạt được rồi, sinh ra thỏa mãn, hết động lực, trống rỗng, lại rơi vào bi kịch khác... Đó là chưa nói tới chuyện, cầu mà đạt được thì cái cầu tiếp theo sẽ to lớn hơn cái cầu trước và là nguyên nhân cho cái khổ lớn hơn. Cho nên bổ sung thêm cho Tứ diệu đế rằng : Cầu đắc diệc khổ ( cầu được cũng khổ).

Phương án của Đạo gia: thiểu tư quả dục, tư tưởng ít, nhân dục ít là cách để hạn chế khổ, điều này có vẻ khả thi. Khổ đã không tránh thì cố gắng làm cho nó bớt bớt đi. Ít cầu  đi thì bớt khổ đi, vì được cũng khổ, không được cũng khổ mà. Nho gia chủ trương điều tiết kiềm chế nhân dục, cho nhân dục khoảng tự do trong khuôn khổ, chỉ thích cái được phép làm thực chất là kiềm chế,  điều tiết cả sự sung sướng và sự khổ, không được sướng quá, không để rơi vào trạng thái khổ quá.  Điều này đối với những người thích hưởng lạc và tự do phóng khoáng thì hẳn là không thích thú gì, nhưng nhìn từ góc độ xã hội và với tính hiệu quả thực tế của nó thì không phải không hữu ích. 

Người xưa theo đạo thượng thừa Thiền, luyện tâm để đạt tới Vô cầu ( không truy cầu theo đuổi bất cứ điều gì để đạt tới an lạc). Cầu bất đắc khổ, cầu đắc diệc khổ,  vô cầu nhi lạc. Vô cầu là đã gần tới tâm không.

Vô cầu là đắc đạo rồi. Nhưng làm thế nào để Vô cầu? Theo đuổi sự vô cầu mà không phù hợp với tâm tính  và sở nguyện của ta thì mong muốn Vô cầu lại thành ra một thứ  cầu  vô cùng khó đạt và có khi đó là nguồn của một cái khổ lớn.  Làm phàm nhân ở đời chắc vẫn phải cầu thôi. Cầu mà đắc đừng lấy thế làm vui quá, cầu bất đắc cũng đừng lấy thế làm khổ quá, tự điều tiết được chút nào tốt chút đó, nhậm vận tùy duyên đành vậy. 

11.9.2012 
Nguyễn Kim Sơn


Thursday, August 23, 2012

TÍNH HỮU ÍCH CỦA CÁI VÔ DỤNG

Phật giáo luận giải về sự khổ rất đa dạng, có tứ khổ, thập khổ, bát khổ, nội khổ, ngoại khổ cho tới bát bách khổ, vạn khổ... Tức là rất khổ tâm luận về khổ. Nhưng trong các luận giải về khổ vô cùng phong phú đó không thấy cái khổ vì hữu dụng, hay hữu ích. Cũng có thể nó nằm trong " ngũ uẩn thịnh khổ".

Lão tử và Trang tử thì lại đặc biệt chú ý tới cái khổ mà nguyên nhân của nó chính từ sự hữu dụng. Các vị đó nhìn sự hữu dụng như là một thứ nguy cơ, một mối nguy hiểm tiềm năng đe dọa kẻ có nó. Con vật nào thịt ngon thì bị người ta lùng bắt và giết. Cao xương hổ tốt cho gân cốt người dùng nên chúng bị săn bắt ráo riết. Sừng tê giác hữu dụng hơn nữa khiến chúng cũng bên bờ vực tuyệt chủng. Hoa dại thơm và đẹp dễ bị người ngắt hái. Tiếng hót hay của chim là nguyên nhân khiến chúng vào lồng, và mật của gấu,  lông của nhím, ngà của voi...đã làm hại chủ nhân của chúng. Kẻ nào chẳng may bị người khác khen là thông minh, giỏi giang có thể lời khen ấy khiến hắn có thêm vô số kẻ thù. Và kẻ lỗi lạc không thể có số phận bình thường. Ai biết cái gì khổ với cái đó. Không biết làm gì, đầu óc ngu si, hưởng trọn thái bình. Cái Vô dụng mới là điều mà Đạo gia sùng thượng, đề cao, coi đó như một thứ đạo. Đạo để biến mình thành vô dụng, biết cách vô dụng.

Cái vô dụng có từ thuyết của Lão tử, Lão tử trọng ngu, trọng vô ích,   phản đối trí tuệ, càng ngu càng tốt. Lão tử cho cái khôn ngoan là biết đặt mình dưới người, đặt mình sau người. Đang ở cao thì mau xuống thấp, đang ở trước biết ẩn ra sau. Không tiến, không lên, không cao, không đại mà thoái, xuống, ẩn, tàng. Nó đều chỉ cái vô dụng. Triết lý vô dụng của Lão tử có gốc từ triết học tự nhiên của ông. Đạo tạo ra mà không dấu vết, cho không kể công, mẫu mực hơn hết mà không tuyên bố về sự mẫu mực đó.

Vô dụng trong thuyết Lão tử là chỉ cái tự nhiên, thuận tự nhiên, hữu dụng được đưa về phạm trù cái nhân vi. Hữu dụng, tranh, cạnh, xảo,... thuộc về nhân vi. Thực ra cái ngu chân chính mà Lão tử đề cao nhất là loại cái ngu là đỉnh cao của trí tuệ, tức bậc trí giả biết cách làm cho mình như ngu " đại trí nhược ngu". Tức cái ngu chủ động, ngu siêu việt trí chứ không phải ngu thuần túy là ngu. Lão tử bằng vô dụng để mong đạt tới cái đại dụng, đó là bảo thân, duy trì sinh mệnh, hài hòa, xã hội không cạnh tranh, ai ai cũng nhường nhịn, không có chiến tranh... từ đó mà thủ tiêu những tai họa đe dọa con người.  

Trang tử đẩy mạnh quan niệm về cái vô dụng trong phương diện triết lý nhân sinh. Con rùa lết cái đuôi nơi ngòi rãnh để hưởng hết tuổi trời là  tượng trưng cho cái vô dụng. Con rùa được người ta mang về để chết khô nơi chốn miếu đường,   trên bàn thờ thần thỉnh thoảng bị người ta lấy một mảnh mai để cúng, bói là biểu tượng cho sự hữu dụng. Cái cây Vu cây Lịch, nhờ phẩm chất vô dụng, gỗ không dùng được vào việc gì, mùi vị thì hôi thối... nên nó được yên và cao mãi tới nghìn dặm. Vô dụng, theo Lão - Trang có cái  đặc biệt hữu ích của nó.

Từ góc nhìn hiện đại, đề cao vô dụng có cái quái gở của nó. Nó là phản tiến bộ, phản giáo dục, phản nhiều thứ.  Nhưng không phải mọi sự quái gở đều vô lý cả. Thực hư thế nào, tùy nghi chiêm nghiệm.
           22.8.2012

Thursday, August 09, 2012

VÀI CHUYỆN TẢN MẠN CÓ LIÊN QUAN TỚI NGƯỜI NHẬT BẢN

Có mấy mẩu chuyện vụn vặt nghe được chỗ này chỗ kia, kể lại để ... mà kể.

1. Tôi có một anh bạn người Nhật, anh ấy là giáo sư của Đại học Tokyo. Chúng tôi có một thời gian cùng làm việc tại một viện nghiên cứu, buổi trưa chúng tôi thường cùng ăn trong nhà bếp. Ai cũng có phần thức ăn mang theo. Ngày nào cũng giống như ngày nào, tôi thấy anh bạn Nhật lấy bọc thức ăn ra từ trong balo. Đó là chiếc khăn trắng buộc chéo hai góc rất cân đối. Anh ấy thường rất thong thả mở chiếc khăn, lấy chiếc hộp gỗ rất vuông, gỗ rất đẹp, trong có nhiều ngăn. Một ngăn đựng cơm và mấy ngăn còn lại đựng thức ăn. Cơm của anh ấy luôn đóng từng miếng vuông như cơm nắm của dân đi cày. Anh ấy có một đôi đũa bằng kim loại, có khớp nối ở giữa có thể gập mở như con dao nhíp. Sau mỗi bữa ăn, anh ấy rửa đồ đạc ngay, rồi lấy giấy lau chúng rất lâu, rất tỉ mỉ gấp chúng lại, sau cho vào hộp, lại gói lại, buộc hai góc cân đối và đẹp như ban đầu. Anh ấy  tập trung vào công việc của bữa ăn như đang tọa thiền. Bữa ăn, các dụng cụ, từng động tác như biểu thị của một loại công nghệ cao.

 2. Một người khác kể lại cho tôi nghe như sau:  Tôi (người kể cho tôi) từng xem một anh bạn người Mỹ đứng in mấy tờ handout cho một lớp sinh viên  do anh ấy dạy học, tôi thấy anh ấy cứ in đi in lại vì phát hiện ra sai chỗ này sai chỗ kia, dù chỉ là một dấu câu bé tí. Tôi bảo, sao không dùng bút chì thêm vào cho nhanh. Anh bạn ấy đáp: "Sinh viên tớ dạy là người Nhật. Tớ phải làm việc với người Nhật."

3. Xe Mercedes của nước Đức lắp ráp tại Nhật Bản giá thành bán cao hơn nhập nguyên chiếc từ chính hãng. Lý do vì người nhật tin vào công nhân Nhật trong quá trình lắp ráp hơn bất kỳ ai.

4. Có một món bánh truyền thống của người Nhật ( không thể nhớ được tên bánh). Món này trước khi ăn nhất định phải tưới nước sốt. Đó là một thứ vừa ngọt vừa chua, có người ăn bánh đó thì thích nhưng riêng cái vị nước sốt thêm vào kia thì không. Người đó yêu cầu đừng cho nước sốt vào, nhưng người bán hàng không bao giờ nghe. Lý do vì phải có nước sốt đó thì mới thành bánh đó, thế mới đúng với thông báo bán hàng. Người mua ( một giáo sư Việt Nam) đành bó tay, vẫn luôn phải mua với cả nước sốt rồi mang ra một chỗ, tìm cách gạt chúng đi trước khi ăn. Cũng có đôi lần rỗi rãi và cộng với nhiệt tình, người bán hàng có giúp đỡ vị giáo sư kia gạt bỏ nước sốt. Nhưng đừng hy vọng lần sau anh ta không cho vào.

Ngày 7.8.2012 trong lúc ngồi rỗi ở sân bay Narita/ Tokyo

Tuesday, June 05, 2012

Lễ chùa ở Đài Loan


Người Đài Loan sùng Phật, điều đó chúng khẩu đã đồng từ. Ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo tới đời sống người Đài Loan có thể nhận thấy một cách sinh động ở sự hiện hữu của các quán ăn chay tại khắp mọi nơi. Tỷ lệ người ăn chay ở đây rất cao (thấy thế nhưng chưa tìm được con số thống kê cụ thể). Công nghệ chế tạo đồ ăn chay của Đài Loan đứng hàng đầu thế giới. Số người đi lễ chùa và tham gia các hoạt động tôn giáo đương nhiên là rất nhiều.

Long Sơn là một ngôi chùa lớn và nổi tiếng ở Đài Bắc. Bản nhân có cơ duyên được lui tới chùa này nhiều lần, tại hầu hết các chuyến đi sang Đài Bắc. Xin có vài lời bình luận và mấy tấm hình để mọi người tham khảo về cách quản lý và đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh của người Đài, để cùng chiêm nghiệm.


Photobucket
Cổng chùa Long Sơn, Đài Bắc
Một ngày bình thường, không phải rằm hay mồng một, nhưng người đi lễ ở đây rất đông. Khói hương nghi ngút, người ta cắm hương ở ngoài trời mà không cắm hương ở trong nội điện. Người lễ cầm hương vái khắp nơi, lầm rầm những điều chỉ có họ và Thần Phật biết. Họ hướng lên không trung mà lễ chứ không chỉ hướng vào phía những pho tượng tôn nghiêm. Hương đốt được phát không cho người lễ và phát với số lượng vừa đủ, không gây ra cảnh khói quá lớn.


Photobucket


Đồ lễ Phật cần qua công đoạn tẩy rửa sạch sẽ trước khi bày lên đĩa. Chùa có khu riêng để thỏa mãn nhu cầu này của người lễ. 

Photobucket
Nơi rửa quả, có dòng chữ nhắc nhở "Xin hãy tiết kiệm nước"

Đồ lễ của người Đài nhìn chung giản dị, chay tịnh, một đĩa hoa, chút quả, bánh trái, không có cảnh đưa lên bàn thờ mọi thứ có thể ăn được, uống được và mua được ngoài chợ. 

Photobucket

Photobucket

Người ta hay dùng những lẵng hoa nhỏ để cúng Phật. Trên lẵng hoa cài những tấm thiếp, ghi tên người cúng lễ và điều mà họ cầu cúng. Đây chính là hình thức viết sớ thời hiện đại, đẹp, lịch sự và tiên tiến. 

Photobucket

Photobucket

Số lễ vật được bày cúng rất nhiều, ban thờ trong nội điện không thể đủ chỗ để bày. Lễ vật được bày ra những dãy bàn rất lớn ngoài sân. Đặt đồ lễ lên các bàn đó là được, không cần chen nhau bẹp ruột để đặt đồ lễ vào trong nhà. Phật nhìn thấu mọi lòng thành. 


Photobucket


Nếu nhìn vào lễ cúng Phật, người ta dễ lầm tưởng người Đài nghèo khổ. Người đến lễ không trọng đồ lễ to, mà trọng ở việc tụng kinh. Xung quanh bảo điện có vô số ghế và chỗ đặt sách để người tới lễ có thể tụng kinh được. Nhiều người vừa lần tràng hạt vừa nhìn như thôi miên vào một chai nước trong để cầu khấn (bản nhân chưa hiểu hết lý do và ý nghĩa).


Photobucket

Photobucket

Photobucket

Người đi lễ cũng thích coi thẻ, xem quẻ để đoán vận. Những đồng âm dương là những mảnh gỗ, tựa như hai miếng hạt điều phóng to, sơn đỏ.

Photobucket


Người lễ sẽ lấy hai mảnh gỗ này, ấp vào lòng bàn tay để truyền tinh thần và điều thỉnh nguyện của mình vào đó, rồi tung xuống đất. Nếu sấp ngửa là đã được thần Phật đồng ý và có thể rút lấy một thẻ tre. Ống đựng thẻ cao tới ngang người. Mỗi thẻ tre dài khoảng 80 cm. 

Photobucket

Photobucket

Không thấy người ta bày tiền phơi phới khắp nơi hay dắt tiền lên tay tượng, mình tượng. Nghe nói người ta công đức tiền chủ yếu thông qua chuyển khoản. Cũng không thấy nhạc cúng xập xình. Không có chuyện lấy nhầm đồ lễ của nhau một cách cố ý. Người đi lễ đông, nhưng không chen lấn nhau. Người già yếu cũng có thể tới đây lễ không sợ chết bẹp do chen lấn hay cướp giật, trộm cắp, chặt chém, môi giới lễ bái.

Phật chỉ có một, nhưng sự lễ Phật thì không như vậy.

Thursday, May 31, 2012

Tự ngã


Trong thời đại cạnh tranh khốc liệt, các cá thể muốn giữ được chỗ đứng của mình trong xã hội, trên nữa muốn phát triển, vươn tới đều phải không ngừng phát triển mình, phải không ngừng vươn lên, không ngừng hoàn thiện mình. Người ta phải nhìn ra xung quanh, xem thiên hạ như thế nào, xem người khác thay đổi và phát triển ra sao, cái nhìn đó nhằm tới sự hiểu người. Nhưng sự hiểu người này, cũng rất dễ gây ra những tác động tiêu cực trong việc phấn đấu của người muốn phát triển mình.

Nhìn người có mấy khả năng xảy ra. Khả năng thứ nhất là ta giống mọi người, mọi người giống ta, mọi người hay ta cũng hay, mọi người dở ta cũng dở, người tiến ta tiến, dàn hàng ngang vui vẻ cả. Khả năng này rất khó xảy ra thực tế. Khả năng thứ hai là ta may, hoặc không may rơi vào một tập thể toàn những thành viên kém hơn ta. Ta buộc phải thành kẻ xuất sắc nhất trong số đó. Khả năng thứ ba cũng do không may hoặc may mắn ta rơi vào một nơi mà ở đó toàn những kẻ hơn ta. Nhìn chỗ nào cũng thấy mình kém họ, thấy ai cũng hơn mình. Khả năng thứ tư là ta tồn tại trong cộng đồng có kẻ hơn mình, có kẻ kém mình, có kẻ học theo mình và có kẻ mình cần học theo.

Trong trường hợp đầu tiêu và cuối cùng, sự ứng xử có lẽ không có gì khó khăn lắm. Vấn đề là ở hai trường hợp còn lại. Làm thế nào để tồn tại cùng những kẻ kém hơn mình mà mình vẫn không tự mãn, không nhụt chí, vẫn có thể tiến bộ? Làm thế nào để trong tập thể mà toàn những kẻ hơn ta, ta vẫn không thấy ngạt thở, không mất tự tin, không thấy mặc cảm, vẫn có thể tìm đường để vươn tới. Lấy gì làm chỗ dựa, làm thước đo? Có lẽ chỉ hướng phản quan tự kỷ bản phận sự vô cầu tha đắc (quay về nhìn nhận chính bản thân mình là việc căn cốt đừng truy tìm và không thể tìm thấy cái mình cần tìn ở nơi ngoài mình) theo tinh thần Phật giáo, hay tự ngã thực hiện theo tinh thần của Nho gia là hữu ích cho các trường hợp này.

Lấy chính mình làm chỗ dựa, lấy mình làm tiêu chuẩn. Muốn biết mình có tiến bộ hay không, không có tiêu chí nào tốt hơn chính mình. Miệt mài học tập, nhưng so với hôm qua không thấy mình khá hơn chút nào thì ấy là đáng lo ngại. Mỗi người tư chất khác nhau nên việc tích lũy kiến thức và tốc độ trưởng thành cũng cần khác nhau. Vấn đề quan trọng là tôi luôn cố gắng, trong sự chậm chạp của mình, tôi thấy tôi đang tiến bộ lên, tôi sẽ yên tâm về sự tiến bộ của mình. Nếu tôi rơi vào chỗ toàn những kẻ kém hơn tôi, tôi vẫn cần không ngừng phấn đấu, người ta khen tôi mặc họ, hôm sau tôi phải tốt hơn tôi ngày hôm qua. Làm được như vậy, môi trường toàn những kẻ kém cỏi không phải là một sự cản trở đối với tôi, nó không khiến tôi dễ thỏa mãn và thoái chí. Nếu tôi rơi vào hoàn cảnh toàn những người hơn tôi, tôi có thể tạm kém họ, nhưng nếu với sự quyết tâm và tốc độ tích lũy không ngừng, tháng sau tốt hơn tháng trước, giỏi lên một cách đều đặn thì cứ như vậy, cứ như vậy, bền bỉ và bền bỉ, một ngày nào đó tôi cũng sẽ trở thành một người như họ. Khi tôi chưa bằng người ta tôi vẫn không thấy hốt hoảng bởi một lẽ tôi đang dần tự thay đổi theo chiều tốt.

Nói như vậy không có nghĩa mình chỉ biết có mình và nhìn mình, đó chỉ là một sự nhấn mạnh. Trong sự cạnh tranh và so sánh, thường thì cái nhìn về phía người khác, sự so sánh với người khác dễ dàng tạo ra những tác động lớn tới mình. Trong mọi trường hợp, nhìn về chính bản thân mình là hết sức quan trọng. Tự ngã thực hiện thực chất là tự đánh giá để có tự tin mà thực hiện, không gì khác.

Cảm thán của một ngày chăm chú nhìn...

Quốc tế thiếu nhi 1.6.2012

Friday, May 18, 2012

Sao mà nhiều thế?


Photobucket
Thoát khổ từ khi chưa nếm mùi khổ (ảnh chụp lại, không rõ nguồn gốc)

Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang các nước Đông Á để lại cho mỗi nước một diện mạo riêng, nói chung chẳng đâu giống đâu. Thái Lan, Lào và Campuchia có xu hướng Phật giáo tiểu thừa. Khung cảnh tự viện với những mái chùa sơn thếp vàng vút cao cùng một số rất ít các pho tượng kích cỡ khổng lồ nằm ngồi đủ các tư thế chiếm phần lớn không gian thờ tự là hình ảnh hay gặp tại các quốc gia Phật giáo này.


Photobucket
Vàng dùng trong kiến trúc Phật giáo

Nhưng thế giới quả là rộng lớn và vẫn tiềm chứa nhiều điều bất ngờ. Ở một số địa phương tại Lào, người ta lại có phong tục, ai muốn cầu khấn Phật điều gì, họ sẽ mua một pho tượng Phật nhỏ (bằng các loại chất liệu khác nhau, chủ yếu là bằng đồng), rồi mang lên chùa đặt vào một vị trí quy định để biểu thị sự sùng kính với Phật và cầu điều mình mong muốn.

Photobucket
Hãy đếm thử

Có những pho tượng chỉ nhỏ bằng ngón tay út, thậm chí còn nhỏ hơn. Điều này khiến cho nhiều ngôi chùa có số lượng tượng Phật lên tới hàng ngàn. Vô số những pho tượng tí xíu vây quanh những pho tượng đồ sộ.

Photobucket
Kỷ lục về số tượng trong một chùa


Cảnh tượng này cũng giống như rừng bát hương hay ảnh người chết được đưa vào ăn mày cửa Phật tại các ngôi chùa miền Bắc Việt Nam.

Luang Prabang 10.5.2012

Bonus:


Photobucket
Nếm thì ngon, lành hay không  chưa biết :)

Photobucket
Vật trang trí nhà cửa

Photobucket
Có thể Lào là nước sản xuất chỉ nhiều nhất thế giới để... buộc vào cổ tay nhau

Photobucket
Dòng Mekong chảy qua nhiều núi nhưng lại ít thác ghềnh


Photobucket
"Hãy chuyển lòng thành kính thành sức mạnh để nâng viên đá này lên ngang mặt 5 lần, điềm lành sẽ tới"
Photobucket
Làm việc ít thôi, để còn múa Lamvong 

Sunday, April 08, 2012

Về bài thơ vịnh Mai của Trần Nhân Tông


Văn học đời Trần chưa xuất hiện nhiều thơ vịnh vật. Văn học Phật giáo có nói tới các đồ vật, sự vật hiện tượng, trăng, nước, hoa cỏ...nhưng đó chưa phải là thơ vịnh vật thực sự tiêu biểu. Có thể nói thơ vịnh vật là sản phẩm của văn chương nhà Nho, nó liên quan tới đặc trưng thẩm mỹ của văn học nhà Nho. Trong bài " Sự đan xen các khuynh hướngthẩm mỹ trong thơ Huyền Quang" đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học, tôi có viết:

[Những bài kiểu như bài vịnh Mai của Trần Nhân Tông là khá hiếm hoi:

Thiết đảm thạch can lăng hiểu tuyết,
Cảo quần luyện thuế nhạ đông phong.
Nhân gian kiệm tố Hán Văn đế,
Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông.

(Gan dạ, sắt đá vượt lên tuyết buổi sớm,
Quần lụa mộc, khăn lụa trắng đón gió đông.
(Như) Hán Văn Đế là người tiết kiệm, mộc mạc trong nhân gian,
(Như) Đường Thái Tông là bậc anh hùng trong thiên hạ)

Bài này rõ ràng có khí khái hơi khác với tinh thần tùy duyên nhậm vận, một loại cảm hứng và một triết lý thiền tiêu biểu và nổi bật trong thơ Trần Nhân Tông, nó thiên về thơ ngôn chí kiểu Nho gia. Bài thơ thể hiện chí hướng muốn có được những phẩm chất hơn người, mong làm nên sự nghiếp đế vương như Hán Văn Đế, Đường Thái Tông. Bài này có thể ví như một bông hoa lạ báo hiệu  sự nảy nở và bắt đầu của loại thơ vịnh vật.]
               
Nhân có người trao đổi về bài thơ này, thấy cần viết thêm đôi dòng.  


Bài này rõ ràng là khẩu khí nhà Nho, và cả khẩu khí đế vương nữa. Vịnh mai  thi nhân thường ca ngợi phẩm chất thanh cao, đẹp đẽ ưu trội, nội lực mạnh mẽ, ngạo tuyết lăng sương mà ưu việt xuất quần. Bông mai trong bài thơ vịnh của Trần Nhân Tông cũng đương đầu với tuyết với gan dạ sắt đá, giản dị thanh nhã  mà đón gió đông. Nhìn từ  hai câu này hoàn toàn thấy nó không khác mấy những bài vịnh Mai khác. Nhưng Mai thường biểu tượng cho khí tiết người sĩ phu quân tử, không chịu sự chi phối của hoàn cảnh. Trần Nhân Tông ca ngợi khí cốt tinh thần, nhưng ở đây lại không phải là cái cao nhã của người quân tử. Ông là một ông vua. Khi vịnh ông nghĩ tới những hình mẫu đế vương khác để ca ngợi và lấy làm mẫu để khuyến miễn. Ông nói tới hoa mai và liên tưởng tới những vị vua mẫu mực. Ông liên tưởng tới  những sự nghiệp lẫy lừng, công trạng hay đáng học của các bậc tiên đế tiên vương. Bài thơ nói tới người kiệm tố, giản dị và một người vua anh hùng, điều đó cũng có thể coi là một liên tưởng và một tỷ dụ về phẩm chất ưu việt của Mai, nhưng dẫu sao thấy nó cũng có phần lỏng lẻo, chưa thực chặt chẽ. Tại sao lại như vậy?  Vì ông không phải thân phận giống như văn nhân sĩ phu. Mối quan tâm của ông cũng không phải là một tinh thần đạo đức như nhà Nho. Như vậy có thể thấy, phần đầu nhắc tới phẩm chất của Mai như một thói quen và phần sau xa dần cấu trúc chặt chẽ và vì vậy cái hồn của loại vịnh Mai không thể hiện hết.


Có thể bởi cả hai lý do: Thứ nhất, Trần Nhân Tông là ông vua tôn sùng các giá trị Phật giáo hơn những giá trị đạo đức nhà Nho; Thứ hai, Trần Nhân Tông đứng ở vị thế ông vua chứ không phải sĩ phu. Cho nên bài thơ vịnh mai nêu trên chỉ chịu ảnh hưởng của thơ vịnh mai như một công thức mà thiếu phần hồn của đạo đức và tinh thần nội thẩm mỹ tương tự như các bài  vịnh vật khác của nho gia. Nhưng về phương diện hình thức, cấu trúc, nó vẫn thể hiện nhiều phương diện của thơ vịnh và của văn chương nhà Nho. Trạng thái tinh thần này biểu hiện trong bài thơ vịnh với một sự tán đồng có phần khá mờ nhạt bình đạm về hình ảnh hai ông vua trong quá khứ, một ông giản dị tiết kiệm (đương nhiên là những phẩm chất của vua Nho giáo) và một ông vua anh hùng. Nhưng ngay cả việc nói tới vị anh hùng cũng không được khí thế cho lắm.   


Một bài thơ vịnh nêu trên cũng cho thấy trạng thái Phật - Nho đan xen trong tư tưởng Trần Nhân Tông, và bài thơ cũng đánh dấu  sự xuất hiện buổi đầu của thơ vịnh vật.

Wednesday, February 08, 2012

Về tôn hiệu tiên hiền Chu Văn An




Hồi đầu năm 2011, trong một cuộc họp tại huyện Thanh Trì, một cán bộ địa phương khi giới thiệu về truyền thống của huyện có nói tới danh nho Chu Văn An với tôn hiệu Vạn thế sư biểu, ông nói rõ rằng, huyện ta tự hào vì có được đấng Vạn thế sư biểu Chu Văn An. Nghe thế tôi rất lấy làm lạ và  cho rằng có thể là nhầm lẫn của một người, nên cũng cho là không cần đính chính.

Photobucket
Ảnh do tác  giả tự chụp


Cách đây mấy hôm,  có dịp tới dâng hương tại đền thờ Chu Văn An, chính xác là tại Phượng Sơn linh từ, thấy 4 chữ Vạn thế sư biểu đắp to cỡ hàng mét vuông tô màu  vàng để tôn xưng Chu Văn An. Rồi khi nghe văn tế, chủ tế đọc rất rõ ràng nhiều lần tôn hiệu Vạn thế sư biểu Chu Văn An


Photobucket
Ảnh do tác giả tự chụp
Tới lúc đó tôi thực sự choáng. Có quá nhiều người biết rõ ràng rằng Vạn thế sư biểu (Bậc thầy của muôn đời) là tôn hiệu chỉ được tôn cho một người là Khổng Tử. Ngoài Văn miếu, nơi Đại Thành Điện có bức đại tự viết 4 chữ đó, biểu thị sự tôn vinh Khổng tử. Rất nhiều văn miếu các nơi trên thế giới đều có câu này, người ta cũng dùng cụm từ đó để chỉ Khổng Tử, chẳng hạn, “đấng Vạn thế sư biểu có nói rằng”... và ai cũng hiểu đó là Khổng Tử nói.  Vậy mà không hiểu sao nó lại được dùng để nói về Chu Văn An. Có lẽ cái nhầm bắt đầu từ khi bức họa Chu Văn An được đem đặt  trên bàn thờ ngay dưới đại tự “Vạn thế sư biểu” trong Văn miếu Hà Nội suốt một thời gian rất dài. Nó khiến người tới lễ cứ tưởng Đại Thành điện là nơi chỉ thờ riêng Chu Văn  An và bức đại tự đó thể hiện tôn hiệu vị tiên hiền họ Chu.

Tôi nói với ông thủ từ: “Bác ơi, Vạn thế sư biểu là tôn hiệu của Khổng Phu tử, sao bác lại dùng làm tôn hiệu Chu Văn An. Văn Trinh Công là nhà Nho chính trực, khảng khái, thuần Nho giữ lễ, chắc cụ không đời nào lạm nhận danh hiệu đó đâu, bác đừng gọi thế nữa. Chu Văn An cũng là bậc thầy vĩ đại, là người được tiên Nho tôn là “Thượng tường sơn đẩu”, “Truyền kinh chính học”...  Nếu như người Việt Nam mình muốn tôn Chu Văn An là bậc thầy của muôn đời đất Việt thì phải thêm hai từ nữa, thành Việt Nam Vạn thế sư biểu mới được”.

Ông thủ từ nghe tôi nói vậy thì bảo, đại ý: cái này phải báo cáo cấp trên phê duyệt mới được, tôi đọc theo quy định chứ không phải tự ý, các bác thông cảm. (?) 
Ngày 9, Tháng giêng, năm Nhâm Thìn


Wednesday, February 01, 2012

Cái chữ Nhẫn (忍)


Thư pháp của Chương Thiên Khiếu. Nguồn: ở đây

Ngày xuân, qua mấy nhà người quen, thấy nhà nào cũng treo một chữ Nhẫn viết chữ Hán với các trình độ viết, khả năng thư pháp thể hiện rất khác nhau. Thấy nhiều chữ Nhẫn quá mà tự nhiên không thể nhẫn được mà đành bày tỏ đôi dòng. Phải nói cái chữ Nhẫn thật hay. Nín nhịn, chịu đựng, nhường nhịn quả là có thể đem lại cho các quan hệ xã hội nhiều tác dụng to lớn. Chữ Hòa () quả khó đạt được nếu thiếu Nhẫn. Một cá nhân, một gia tộc, một cộng đồng mà biết Nhẫn thì tránh được nhiều điều rắc rối. Nhiều người đã làm cả thơ để diễn nghĩa, tán dương ý tứ sâu xa, tốt đẹp của cái chữ Nhẫn này, rồi thể hiện trên các chất liệu khác nhau, treo trên tường như một loại châm, minh tự răn tự giới. Cứ xem thời thế hiện nay, ra đường nhìn vào mặt nhau đã có thể gây án mạng vì bị quy kết là “nhìn đểu” thì mới thấy cái chữ Nhẫn nó hay đến thế nào. Có lẽ cũng không cần thêm lời ca ngợi sự tuyệt vời của tinh thần nhẫn nhịn nữa. Nhưng cứ nghĩ đi nghĩ lại, nếu một cộng đồng rộng lớn mà mọi người đều Nhẫn, cộng đồng đó là một cộng đồng vĩ đại, đáng kính nể, nhưng nó cũng là một cộng đồng có vấn đề và một cộng đồng tiềm chứa trong nó những nguy cơ tinh thần.


Photobucket
Thư pháp của Trần Đôn Tam. Nguồn: ở đây

Nhẫn có nghĩa là dồn nén, chế ước, áp chế, nhốt chặt cái bất bình, là dùng áp chế tinh thần để chịu đựng cái mà bình thường khó chịu hoặc không thể chịu. Nó là sự cố gắng chấp nhận cái khó chấp nhận. Nín nhịn để cho mọi việc được tốt đẹp. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là cái khó chịu, cái tức giận vẫn còn nguyên đó. Cái gì dồn nèn mãi cũng hại tâm hại khí. Điều này xem ra không có lợi cho sức khỏe. Cứ dồn mãi cái tức vào đó, tới lúc tức nước vỡ bờ, không nhẫn được nữa thì cái sự xả tức giận sẽ thật đáng sợ.


Photobucket
Thư pháp của Lưu Kế Vũ.  Nguồn: ở đây

Triết lý  Nhẫn có lẽ phù hợp với số đông và ở cấp độ thông thường thì nó không quá khó thực hành. Nó là một sự khôn ngoan dành cho cộng đồng. Đối với người tiềm tâm hơn vào việc dưỡng tâm và hy vọng có những ứng xử hiệu quả phù hợp với cá nhân cao hơn mặt bằng tinh thần số đông một chút thì có lẽ Nhẫn không vẫn chưa đủ. Cao hơn Nhẫn là phải biết hỷ xả, biết trút bỏ, phải triệt tiêu sự tồn tại của những nỗi niềm tức giận để nó không những tốt hơn cho quan hệ mà còn tốt cho cả mình.  Sự hóa giải mọi niềm phẫn uất để đạt tới an lạc, tự lạc, tự tại là cảnh giới tinh thần cao hơn Nhẫn. Không chỉ nín nhịn mà có thể mỉm cười với những điều có thể gây ra sự khó chịu bực tức. Như vậy chữ Lạc phải được đặt cao hơn Nhẫn một bậc. Muốn thế phải xả kỷ tòng nhân để không bực tức. Muốn thế phải giữ cho hư tâm như triết lý sống của người quân tử.

Suy cho cùng, Nhẫn hay Lạc hay trạng thái nào đi nữa cũng đều là  sản phẩm của sự tu dưỡng và tự chủ tinh thần, mỗi người với khả năng của mình nên cố gắng đạt tới trạng thái tốt nhất có thể theo một cách phù hợp.