Pages

Thursday, May 31, 2012

Tự ngã


Trong thời đại cạnh tranh khốc liệt, các cá thể muốn giữ được chỗ đứng của mình trong xã hội, trên nữa muốn phát triển, vươn tới đều phải không ngừng phát triển mình, phải không ngừng vươn lên, không ngừng hoàn thiện mình. Người ta phải nhìn ra xung quanh, xem thiên hạ như thế nào, xem người khác thay đổi và phát triển ra sao, cái nhìn đó nhằm tới sự hiểu người. Nhưng sự hiểu người này, cũng rất dễ gây ra những tác động tiêu cực trong việc phấn đấu của người muốn phát triển mình.

Nhìn người có mấy khả năng xảy ra. Khả năng thứ nhất là ta giống mọi người, mọi người giống ta, mọi người hay ta cũng hay, mọi người dở ta cũng dở, người tiến ta tiến, dàn hàng ngang vui vẻ cả. Khả năng này rất khó xảy ra thực tế. Khả năng thứ hai là ta may, hoặc không may rơi vào một tập thể toàn những thành viên kém hơn ta. Ta buộc phải thành kẻ xuất sắc nhất trong số đó. Khả năng thứ ba cũng do không may hoặc may mắn ta rơi vào một nơi mà ở đó toàn những kẻ hơn ta. Nhìn chỗ nào cũng thấy mình kém họ, thấy ai cũng hơn mình. Khả năng thứ tư là ta tồn tại trong cộng đồng có kẻ hơn mình, có kẻ kém mình, có kẻ học theo mình và có kẻ mình cần học theo.

Trong trường hợp đầu tiêu và cuối cùng, sự ứng xử có lẽ không có gì khó khăn lắm. Vấn đề là ở hai trường hợp còn lại. Làm thế nào để tồn tại cùng những kẻ kém hơn mình mà mình vẫn không tự mãn, không nhụt chí, vẫn có thể tiến bộ? Làm thế nào để trong tập thể mà toàn những kẻ hơn ta, ta vẫn không thấy ngạt thở, không mất tự tin, không thấy mặc cảm, vẫn có thể tìm đường để vươn tới. Lấy gì làm chỗ dựa, làm thước đo? Có lẽ chỉ hướng phản quan tự kỷ bản phận sự vô cầu tha đắc (quay về nhìn nhận chính bản thân mình là việc căn cốt đừng truy tìm và không thể tìm thấy cái mình cần tìn ở nơi ngoài mình) theo tinh thần Phật giáo, hay tự ngã thực hiện theo tinh thần của Nho gia là hữu ích cho các trường hợp này.

Lấy chính mình làm chỗ dựa, lấy mình làm tiêu chuẩn. Muốn biết mình có tiến bộ hay không, không có tiêu chí nào tốt hơn chính mình. Miệt mài học tập, nhưng so với hôm qua không thấy mình khá hơn chút nào thì ấy là đáng lo ngại. Mỗi người tư chất khác nhau nên việc tích lũy kiến thức và tốc độ trưởng thành cũng cần khác nhau. Vấn đề quan trọng là tôi luôn cố gắng, trong sự chậm chạp của mình, tôi thấy tôi đang tiến bộ lên, tôi sẽ yên tâm về sự tiến bộ của mình. Nếu tôi rơi vào chỗ toàn những kẻ kém hơn tôi, tôi vẫn cần không ngừng phấn đấu, người ta khen tôi mặc họ, hôm sau tôi phải tốt hơn tôi ngày hôm qua. Làm được như vậy, môi trường toàn những kẻ kém cỏi không phải là một sự cản trở đối với tôi, nó không khiến tôi dễ thỏa mãn và thoái chí. Nếu tôi rơi vào hoàn cảnh toàn những người hơn tôi, tôi có thể tạm kém họ, nhưng nếu với sự quyết tâm và tốc độ tích lũy không ngừng, tháng sau tốt hơn tháng trước, giỏi lên một cách đều đặn thì cứ như vậy, cứ như vậy, bền bỉ và bền bỉ, một ngày nào đó tôi cũng sẽ trở thành một người như họ. Khi tôi chưa bằng người ta tôi vẫn không thấy hốt hoảng bởi một lẽ tôi đang dần tự thay đổi theo chiều tốt.

Nói như vậy không có nghĩa mình chỉ biết có mình và nhìn mình, đó chỉ là một sự nhấn mạnh. Trong sự cạnh tranh và so sánh, thường thì cái nhìn về phía người khác, sự so sánh với người khác dễ dàng tạo ra những tác động lớn tới mình. Trong mọi trường hợp, nhìn về chính bản thân mình là hết sức quan trọng. Tự ngã thực hiện thực chất là tự đánh giá để có tự tin mà thực hiện, không gì khác.

Cảm thán của một ngày chăm chú nhìn...

Quốc tế thiếu nhi 1.6.2012

Friday, May 18, 2012

Sao mà nhiều thế?


Photobucket
Thoát khổ từ khi chưa nếm mùi khổ (ảnh chụp lại, không rõ nguồn gốc)

Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang các nước Đông Á để lại cho mỗi nước một diện mạo riêng, nói chung chẳng đâu giống đâu. Thái Lan, Lào và Campuchia có xu hướng Phật giáo tiểu thừa. Khung cảnh tự viện với những mái chùa sơn thếp vàng vút cao cùng một số rất ít các pho tượng kích cỡ khổng lồ nằm ngồi đủ các tư thế chiếm phần lớn không gian thờ tự là hình ảnh hay gặp tại các quốc gia Phật giáo này.


Photobucket
Vàng dùng trong kiến trúc Phật giáo

Nhưng thế giới quả là rộng lớn và vẫn tiềm chứa nhiều điều bất ngờ. Ở một số địa phương tại Lào, người ta lại có phong tục, ai muốn cầu khấn Phật điều gì, họ sẽ mua một pho tượng Phật nhỏ (bằng các loại chất liệu khác nhau, chủ yếu là bằng đồng), rồi mang lên chùa đặt vào một vị trí quy định để biểu thị sự sùng kính với Phật và cầu điều mình mong muốn.

Photobucket
Hãy đếm thử

Có những pho tượng chỉ nhỏ bằng ngón tay út, thậm chí còn nhỏ hơn. Điều này khiến cho nhiều ngôi chùa có số lượng tượng Phật lên tới hàng ngàn. Vô số những pho tượng tí xíu vây quanh những pho tượng đồ sộ.

Photobucket
Kỷ lục về số tượng trong một chùa


Cảnh tượng này cũng giống như rừng bát hương hay ảnh người chết được đưa vào ăn mày cửa Phật tại các ngôi chùa miền Bắc Việt Nam.

Luang Prabang 10.5.2012

Bonus:


Photobucket
Nếm thì ngon, lành hay không  chưa biết :)

Photobucket
Vật trang trí nhà cửa

Photobucket
Có thể Lào là nước sản xuất chỉ nhiều nhất thế giới để... buộc vào cổ tay nhau

Photobucket
Dòng Mekong chảy qua nhiều núi nhưng lại ít thác ghềnh


Photobucket
"Hãy chuyển lòng thành kính thành sức mạnh để nâng viên đá này lên ngang mặt 5 lần, điềm lành sẽ tới"
Photobucket
Làm việc ít thôi, để còn múa Lamvong 

Sunday, April 08, 2012

Về bài thơ vịnh Mai của Trần Nhân Tông


Văn học đời Trần chưa xuất hiện nhiều thơ vịnh vật. Văn học Phật giáo có nói tới các đồ vật, sự vật hiện tượng, trăng, nước, hoa cỏ...nhưng đó chưa phải là thơ vịnh vật thực sự tiêu biểu. Có thể nói thơ vịnh vật là sản phẩm của văn chương nhà Nho, nó liên quan tới đặc trưng thẩm mỹ của văn học nhà Nho. Trong bài " Sự đan xen các khuynh hướngthẩm mỹ trong thơ Huyền Quang" đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học, tôi có viết:

[Những bài kiểu như bài vịnh Mai của Trần Nhân Tông là khá hiếm hoi:

Thiết đảm thạch can lăng hiểu tuyết,
Cảo quần luyện thuế nhạ đông phong.
Nhân gian kiệm tố Hán Văn đế,
Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông.

(Gan dạ, sắt đá vượt lên tuyết buổi sớm,
Quần lụa mộc, khăn lụa trắng đón gió đông.
(Như) Hán Văn Đế là người tiết kiệm, mộc mạc trong nhân gian,
(Như) Đường Thái Tông là bậc anh hùng trong thiên hạ)

Bài này rõ ràng có khí khái hơi khác với tinh thần tùy duyên nhậm vận, một loại cảm hứng và một triết lý thiền tiêu biểu và nổi bật trong thơ Trần Nhân Tông, nó thiên về thơ ngôn chí kiểu Nho gia. Bài thơ thể hiện chí hướng muốn có được những phẩm chất hơn người, mong làm nên sự nghiếp đế vương như Hán Văn Đế, Đường Thái Tông. Bài này có thể ví như một bông hoa lạ báo hiệu  sự nảy nở và bắt đầu của loại thơ vịnh vật.]
               
Nhân có người trao đổi về bài thơ này, thấy cần viết thêm đôi dòng.  


Bài này rõ ràng là khẩu khí nhà Nho, và cả khẩu khí đế vương nữa. Vịnh mai  thi nhân thường ca ngợi phẩm chất thanh cao, đẹp đẽ ưu trội, nội lực mạnh mẽ, ngạo tuyết lăng sương mà ưu việt xuất quần. Bông mai trong bài thơ vịnh của Trần Nhân Tông cũng đương đầu với tuyết với gan dạ sắt đá, giản dị thanh nhã  mà đón gió đông. Nhìn từ  hai câu này hoàn toàn thấy nó không khác mấy những bài vịnh Mai khác. Nhưng Mai thường biểu tượng cho khí tiết người sĩ phu quân tử, không chịu sự chi phối của hoàn cảnh. Trần Nhân Tông ca ngợi khí cốt tinh thần, nhưng ở đây lại không phải là cái cao nhã của người quân tử. Ông là một ông vua. Khi vịnh ông nghĩ tới những hình mẫu đế vương khác để ca ngợi và lấy làm mẫu để khuyến miễn. Ông nói tới hoa mai và liên tưởng tới những vị vua mẫu mực. Ông liên tưởng tới  những sự nghiệp lẫy lừng, công trạng hay đáng học của các bậc tiên đế tiên vương. Bài thơ nói tới người kiệm tố, giản dị và một người vua anh hùng, điều đó cũng có thể coi là một liên tưởng và một tỷ dụ về phẩm chất ưu việt của Mai, nhưng dẫu sao thấy nó cũng có phần lỏng lẻo, chưa thực chặt chẽ. Tại sao lại như vậy?  Vì ông không phải thân phận giống như văn nhân sĩ phu. Mối quan tâm của ông cũng không phải là một tinh thần đạo đức như nhà Nho. Như vậy có thể thấy, phần đầu nhắc tới phẩm chất của Mai như một thói quen và phần sau xa dần cấu trúc chặt chẽ và vì vậy cái hồn của loại vịnh Mai không thể hiện hết.


Có thể bởi cả hai lý do: Thứ nhất, Trần Nhân Tông là ông vua tôn sùng các giá trị Phật giáo hơn những giá trị đạo đức nhà Nho; Thứ hai, Trần Nhân Tông đứng ở vị thế ông vua chứ không phải sĩ phu. Cho nên bài thơ vịnh mai nêu trên chỉ chịu ảnh hưởng của thơ vịnh mai như một công thức mà thiếu phần hồn của đạo đức và tinh thần nội thẩm mỹ tương tự như các bài  vịnh vật khác của nho gia. Nhưng về phương diện hình thức, cấu trúc, nó vẫn thể hiện nhiều phương diện của thơ vịnh và của văn chương nhà Nho. Trạng thái tinh thần này biểu hiện trong bài thơ vịnh với một sự tán đồng có phần khá mờ nhạt bình đạm về hình ảnh hai ông vua trong quá khứ, một ông giản dị tiết kiệm (đương nhiên là những phẩm chất của vua Nho giáo) và một ông vua anh hùng. Nhưng ngay cả việc nói tới vị anh hùng cũng không được khí thế cho lắm.   


Một bài thơ vịnh nêu trên cũng cho thấy trạng thái Phật - Nho đan xen trong tư tưởng Trần Nhân Tông, và bài thơ cũng đánh dấu  sự xuất hiện buổi đầu của thơ vịnh vật.

Wednesday, February 08, 2012

Về tôn hiệu tiên hiền Chu Văn An




Hồi đầu năm 2011, trong một cuộc họp tại huyện Thanh Trì, một cán bộ địa phương khi giới thiệu về truyền thống của huyện có nói tới danh nho Chu Văn An với tôn hiệu Vạn thế sư biểu, ông nói rõ rằng, huyện ta tự hào vì có được đấng Vạn thế sư biểu Chu Văn An. Nghe thế tôi rất lấy làm lạ và  cho rằng có thể là nhầm lẫn của một người, nên cũng cho là không cần đính chính.

Photobucket
Ảnh do tác  giả tự chụp


Cách đây mấy hôm,  có dịp tới dâng hương tại đền thờ Chu Văn An, chính xác là tại Phượng Sơn linh từ, thấy 4 chữ Vạn thế sư biểu đắp to cỡ hàng mét vuông tô màu  vàng để tôn xưng Chu Văn An. Rồi khi nghe văn tế, chủ tế đọc rất rõ ràng nhiều lần tôn hiệu Vạn thế sư biểu Chu Văn An


Photobucket
Ảnh do tác giả tự chụp
Tới lúc đó tôi thực sự choáng. Có quá nhiều người biết rõ ràng rằng Vạn thế sư biểu (Bậc thầy của muôn đời) là tôn hiệu chỉ được tôn cho một người là Khổng Tử. Ngoài Văn miếu, nơi Đại Thành Điện có bức đại tự viết 4 chữ đó, biểu thị sự tôn vinh Khổng tử. Rất nhiều văn miếu các nơi trên thế giới đều có câu này, người ta cũng dùng cụm từ đó để chỉ Khổng Tử, chẳng hạn, “đấng Vạn thế sư biểu có nói rằng”... và ai cũng hiểu đó là Khổng Tử nói.  Vậy mà không hiểu sao nó lại được dùng để nói về Chu Văn An. Có lẽ cái nhầm bắt đầu từ khi bức họa Chu Văn An được đem đặt  trên bàn thờ ngay dưới đại tự “Vạn thế sư biểu” trong Văn miếu Hà Nội suốt một thời gian rất dài. Nó khiến người tới lễ cứ tưởng Đại Thành điện là nơi chỉ thờ riêng Chu Văn  An và bức đại tự đó thể hiện tôn hiệu vị tiên hiền họ Chu.

Tôi nói với ông thủ từ: “Bác ơi, Vạn thế sư biểu là tôn hiệu của Khổng Phu tử, sao bác lại dùng làm tôn hiệu Chu Văn An. Văn Trinh Công là nhà Nho chính trực, khảng khái, thuần Nho giữ lễ, chắc cụ không đời nào lạm nhận danh hiệu đó đâu, bác đừng gọi thế nữa. Chu Văn An cũng là bậc thầy vĩ đại, là người được tiên Nho tôn là “Thượng tường sơn đẩu”, “Truyền kinh chính học”...  Nếu như người Việt Nam mình muốn tôn Chu Văn An là bậc thầy của muôn đời đất Việt thì phải thêm hai từ nữa, thành Việt Nam Vạn thế sư biểu mới được”.

Ông thủ từ nghe tôi nói vậy thì bảo, đại ý: cái này phải báo cáo cấp trên phê duyệt mới được, tôi đọc theo quy định chứ không phải tự ý, các bác thông cảm. (?) 
Ngày 9, Tháng giêng, năm Nhâm Thìn


Wednesday, February 01, 2012

Cái chữ Nhẫn (忍)


Thư pháp của Chương Thiên Khiếu. Nguồn: ở đây

Ngày xuân, qua mấy nhà người quen, thấy nhà nào cũng treo một chữ Nhẫn viết chữ Hán với các trình độ viết, khả năng thư pháp thể hiện rất khác nhau. Thấy nhiều chữ Nhẫn quá mà tự nhiên không thể nhẫn được mà đành bày tỏ đôi dòng. Phải nói cái chữ Nhẫn thật hay. Nín nhịn, chịu đựng, nhường nhịn quả là có thể đem lại cho các quan hệ xã hội nhiều tác dụng to lớn. Chữ Hòa () quả khó đạt được nếu thiếu Nhẫn. Một cá nhân, một gia tộc, một cộng đồng mà biết Nhẫn thì tránh được nhiều điều rắc rối. Nhiều người đã làm cả thơ để diễn nghĩa, tán dương ý tứ sâu xa, tốt đẹp của cái chữ Nhẫn này, rồi thể hiện trên các chất liệu khác nhau, treo trên tường như một loại châm, minh tự răn tự giới. Cứ xem thời thế hiện nay, ra đường nhìn vào mặt nhau đã có thể gây án mạng vì bị quy kết là “nhìn đểu” thì mới thấy cái chữ Nhẫn nó hay đến thế nào. Có lẽ cũng không cần thêm lời ca ngợi sự tuyệt vời của tinh thần nhẫn nhịn nữa. Nhưng cứ nghĩ đi nghĩ lại, nếu một cộng đồng rộng lớn mà mọi người đều Nhẫn, cộng đồng đó là một cộng đồng vĩ đại, đáng kính nể, nhưng nó cũng là một cộng đồng có vấn đề và một cộng đồng tiềm chứa trong nó những nguy cơ tinh thần.


Photobucket
Thư pháp của Trần Đôn Tam. Nguồn: ở đây

Nhẫn có nghĩa là dồn nén, chế ước, áp chế, nhốt chặt cái bất bình, là dùng áp chế tinh thần để chịu đựng cái mà bình thường khó chịu hoặc không thể chịu. Nó là sự cố gắng chấp nhận cái khó chấp nhận. Nín nhịn để cho mọi việc được tốt đẹp. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là cái khó chịu, cái tức giận vẫn còn nguyên đó. Cái gì dồn nèn mãi cũng hại tâm hại khí. Điều này xem ra không có lợi cho sức khỏe. Cứ dồn mãi cái tức vào đó, tới lúc tức nước vỡ bờ, không nhẫn được nữa thì cái sự xả tức giận sẽ thật đáng sợ.


Photobucket
Thư pháp của Lưu Kế Vũ.  Nguồn: ở đây

Triết lý  Nhẫn có lẽ phù hợp với số đông và ở cấp độ thông thường thì nó không quá khó thực hành. Nó là một sự khôn ngoan dành cho cộng đồng. Đối với người tiềm tâm hơn vào việc dưỡng tâm và hy vọng có những ứng xử hiệu quả phù hợp với cá nhân cao hơn mặt bằng tinh thần số đông một chút thì có lẽ Nhẫn không vẫn chưa đủ. Cao hơn Nhẫn là phải biết hỷ xả, biết trút bỏ, phải triệt tiêu sự tồn tại của những nỗi niềm tức giận để nó không những tốt hơn cho quan hệ mà còn tốt cho cả mình.  Sự hóa giải mọi niềm phẫn uất để đạt tới an lạc, tự lạc, tự tại là cảnh giới tinh thần cao hơn Nhẫn. Không chỉ nín nhịn mà có thể mỉm cười với những điều có thể gây ra sự khó chịu bực tức. Như vậy chữ Lạc phải được đặt cao hơn Nhẫn một bậc. Muốn thế phải xả kỷ tòng nhân để không bực tức. Muốn thế phải giữ cho hư tâm như triết lý sống của người quân tử.

Suy cho cùng, Nhẫn hay Lạc hay trạng thái nào đi nữa cũng đều là  sản phẩm của sự tu dưỡng và tự chủ tinh thần, mỗi người với khả năng của mình nên cố gắng đạt tới trạng thái tốt nhất có thể theo một cách phù hợp. 

Monday, January 23, 2012

CƯ DI KHÍ, DƯỠNG DI THỂ


Ông Mạnh tử thời xưa có nói: “ Cư di khí, dưỡng di thể”. Đại ý câu này là cư trú có thể làm thay đổi khí chất, nuôi dưỡng có thể làm thay đổi thể chất  con người ta. Cái vế sau của câu thì ý tứ rất rõ. Ai cũng có thể dễ dàng hiểu được rằng: nuôi dưỡng, chăm sóc, chế độ dinh dưỡng có thể làm thay đổi thể chất của con người, có thể làm cho người gầy thành người béo, người khỏe thành người khỏe hơn, và cũng có thể biến người khỏe thành yếu, người yếu thành yếu hơn :). Cứ xem các cháu học sinh phổ thông nghỉ một tuần tết âm lịch xong cháu nào má cũng phính ra thì đủ thấy sự sinh động của  dưỡng di thể. Ông Mạnh tử nhiều lần tính toán về việc trồng cây nuôi gia súc để làm thế nào cho người già có thịt ăn và có áo lụa mặc. Xem ra ông cũng có khiếu về việc nhà nông và có tư chất nhà dinh dưỡng học. Nhưng có lẽ điều muốn bàn ở đây là cái ý tứ quan trọng ngụ ở vế trước của câu  nói.  Mạnh tử khẳng định khả năng thay đổi cả khí chất và thể chất của con người lệ thuộc vào nhân tố tác động bên ngoài.  
Thể chất chỉ trạng thái mạnh yếu của cơ thể sinh học con người. Còn khí chất chỉ loại tố chất tinh thần, chẳng hạn yếu ớt hay mạnh mẽ về tinh thần, nhút nhát hay hùng dũng, can đảm. Khí chất được đề cập ở đây không hẳn phải là tính nết, là thiên tính đạo đức mà là một chất lượng của thể trạng của tinh thần, quy mô tầm vóc của thể trạng tinh thần đó.  Câu  cư di khí, có thể hiểu theo một đại ý là: chỗ đứng, vị trí xã hội có liên hệ với khí chất của con người. Sự thay đổi và chuyển dời vị trí xã hội có thể kéo theo sự thay đổi về khí chất. Cũng là con người ấy, ngày hôm trước là anh  điền xá lang thì ăn nói rụt rè, không dám nói to, không dám nghĩ tới việc lớn. Nhưng hôm sau  đăng thiên tử đàng có thể lời nói của anh ta đã thêm phần gang thép, ăn nói hiên ngang, suy nghĩ hoằng đại, uy phong lẫm liệt, đi đứng hùng dũng. Hôm qua còn là học viên, dự hội thảo khoa học  thì nói năng thiếu tự tin, rào trước đón sau năm bẩy lần mới trộm nghĩ, lạm bàn vài câu. Nhưng vài hôm sau nhận bằng tiến sĩ, có thể vẫn là điều ngày hôm trước trình bày, nhưng nay thì  ăn nói hiên ngang:  theo tôi nghĩ thì phải là thế này, vấn đề này tôi là chuyên gia... Sự thay đổi chỗ đứng trong xã hội thực sự kéo theo sự chuyển đổi khí chất của con người, mà khí chất này tác động tới tư duy, tính toán, ứng xử, hành động và quan hệ. Cổ nhân nói “  miệng kẻ sang có gang có thép” cũng là một tổng kết thực tế về mối liên hệ giữa địa vị và khí chất.
Ngẫm ở đời, nếu sự thay đổi về môi trường làm việc, thay đổi về phạm vi ứng xử, tầm bao quát và quản lý không kéo theo sự điều chỉnh về những tố chất tinh thần tương ứng thì người ta không thể hoàn thành sứ mệnh của mình. Nhưng điều đáng bàn là những cái gì của con người ấy sẽ thay đổi theo cùng với cái khí chất ấy. Các nhà Nho nhiều thế kỷ trước công nguyên đã tỏ ra có lý khi lo lắng về điều này.  Ông Tử Cống, một đại gia trong số các học trò Khổng tử, từ nghèo hèn mà dần giàu có nhờ làm doanh nhân, thấy mình vẫn giữ được những phẩm chất tinh thần tốt đẹp, bèn tới hỏi thầy Khổng với ý khoe ngầm rằng:
Thưa thầy, có một người khi nghèo mà không nịnh, lúc giàu sang mà không kiêu căng thì thầy đánh giá về người ấy thế nào? ”.
Thầy Khổng bảo:
Cũng tạm được, nhưng chưa bằng  người khi nghèo mà vẫn an lạc thanh thản, lúc giàu sang mà vẫn hành động đúng theo lễ nghĩa”.
Với loại người thứ hai mà thầy Khổng nói tới ắt phải là bậc đắc đạo, tu tới độ nhuộm mà không đen được, mài mà không mòn được. Loại này khí chất cũng có thể thay đổi, nhưng nó là sự đổi thay trên nền tảng một trục tâm, một trường điều khiển bền vững, nó là sự biểu thị khả biến của cái lõi bất biến, đó là ĐẠO của nhà Nho. Có cái cốt đó, xuất nhập tiến thoái muôn hình vạn trạng mà không đánh mất mình, thiếu cái đó chỉ sớm chiều thay đổi, anh ta đã không còn là anh ta nữa. Thầy Mạnh tử nói tới những tính khả biến, tính dễ thay đổi của con người để lưu ý tới việc kẻ sĩ hiểu điều cần làm, hiểu rằng nhân tính khả tố để tự định liệu.
Cuộc đời nhiều thay đổi, người ta thực nhỏ bé như cánh cỏ bồng cỏ cảo trước gió, tìm chỗ bấu víu  tinh thần để trụ cho được trước phong ba quả là cần thiết nhưng chẳng phải dễ dàng.
Thể chất cũng có liên hệ  khăng khít với khí chất. Mỗi ngày cần ít nhất 30 phút để luyện  thể thao với niềm hy vọng: dưỡng di thể.
          ( Mồng một tết nguyên đán Nhâm Thìn, tức 23/1/2012 tây lịch. khai blog đầu xuân)

Saturday, December 17, 2011

VIỆC XUẤT THẾ, NHẬP THẾ CỦA ĐẠI TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG TRẦN NHÂN TÔNG




Gần đây sự nghiệp tu hành, tư tưởng, triết lý của Trần Nhân Tông được chú ý bàn luận khá nhiều. Đó cũng là một phần của xu hướng  Phật giáo và Phật học đang hưng thịnh tại Việt Nam. Đã có rất nhiều bài viết được công bố, sách được in và rất nhiều hội thảo được tổ chức. Có một vấn đề mà rất nhiều, rất rất nhiều bài viết nói tới, bàn luận và  ca ngợi, đó là tinh thần nhập thế của Trần Nhân Tông. Có người cho rằng cái tuyệt vời của ông chính là đi tu xuất gia như thế, vậy mà vẫn nhập thế, vẫn không quên đời, quên người, vẫn để lại dấu ấn trong chính trị, quân sự, ngoại giao…như vậy mới tuyệt vời, như vậy mới có điều kiện đóng góp cho lịch sử, cho dân tộc.
Việc ca ngợi như vậy đúng hay không đúng? Hay hay dở? Nên không nên? Câu hỏi này là một việc lớn cần thảo luận, bản nhân không dám hồ đồ, lạm bàn. Tuy nhiên bằng trực cảm  thì thấy có cái gì đó chưa thật ổn thỏa. Bản chất, tính khuynh hướng của Phật giáo là xuất thế hay nhập thế?  Phật giáo là xuất thế, là siêu thế. Phải xác định dứt khoát là thế. Còn xuất thế bằng cách nào, xuất thế không rời thế gian tướng, giải thoát không ngoài thế gian, từ thế gian, trong thế gian là một vấn đề thuộc cách thức. Niết bàn thị sinh tử, sinh tử thị niết bàn cũng không nằm ngoài lẽ làm thế nào để đạt tới Niết bàn. Đó đều là con đường và cách thức để xuất thế.  Giống như một câu chuyện Thiền, trước khi Thiền thấy bình trà tách trà là bình và tách, đang thiền thấy bình không còn là bình tách không còn là tách, Thiền định xong rồi bình trà lại vẫn là bình, tách vẫn lại là tách. Nó  là nó nhưng cũng không còn là nó. Việc nhập thế của người đã xuất thế tới hết mức thì rất khác với người chỉ biết có đời là đời.  "Thế" của người xuất thế mà nhập thế với " Thế" của người tại thế tuy một mà lại là hai, dẫu hai nhưng vẫn là một.
Trần Nhân Tông quả là có nhập thế, nhưng ông nhập thế sau khi đã siêu xuất, nhập thế để xuất thế, xuất thế mà nhập thế. Những bài ca ngợi về  ở trần vui đạo đều do cụ ngồi chốn Yên tử mà suy xét cả. Vấn đề ở chỗ ở đời mà vẫn vui đạo, đắc đạo rồi thì xuất nhập là một.
Ngu ý cho rằng, Trần Nhân Tông nhập thế thật, nhưng cái nhập thế đó cần hiểu như thế nào, cần đặt trong thiền  mà xét, không thể xem sự nhập thế đó cũng giống với việc nhập thế hành đạo kiểu Nho gia hoặc nhập thế là tại thế gian như người thường. Nếu chỉ có biết nhập thế là nhập thế thì có lẽ người bán cá bán rượu ở chợ, người tại gia không biết tới mùi Thiền là những người nhập thế nhất trên thế gian này chứ không phải đại lão hòa thượng Trần Nhân Tông.
                       Kính trọng đại lão hòa thượng vô ngần nên thấy e ngại với  cả những sự ca ngợi
                                                                                                                    17.12.2011


Tuesday, November 08, 2011

LÀM THẦY KHÓ, LÀM TRÒ CŨNG CHẲNG DỄ




Xưa nay người đi học đối với thầy và với học thuật của thầy tồn tại nhiều loại thái độ khác nhau. Trong trường hợp ông thầy là một học giả, một người có uy tín học thuật thì mối quan hệ  hay cách nhìn của học trò đối với đạo của thầy ( và đương nhiên là với cả thầy)  thường thể hiện thành vài loại thái độ:
Loại thái độ thứ nhất: càng học, càng đọc, càng theo thầy, càng nghiền ngẫm về đạo của thầy, càng hiểu càng thấy thầy mình cao vời vợi, càng nghe càng thấy thầy như Thái sơn Bắc đẩu sừng sững không thể và không cách gì với tới, chưa nói chuyện vượt qua. Học trò càng học càng  thấy mình nhỏ bé yếu đuối. Đây có thể là một cảm giác mà học trò đối mặt, cảm nhận thấy một cách nghiêm túc thực sự. Dĩ nhiên  đó cũng có thể là một biểu thị khiêm tốn, hoặc để tôn cao thầy. Cá biệt cũng  có người đề cao thầy chẳng phải vì thầy mà là một cách gián tiếp tôn cao mình. Các trường hợp này có thể tìm thấy khá phong phú trong lịch sử giáo dục.
Trong các học trò của Khổng phu tử, chúng ta biết người học trò được ông yêu quý nhất là Nhan Hồi. Nhan Hồi là cao đệ bậc nhất được Khổng tử công khai thừa nhận và không tiếc lời ngợi khen. Ông kỳ vọng Nhan Hồi có thể kế tục và phát triển được học thuyết của mình. Về phía Nhan Hồi, ông  tiếp thu tất cả những gì mà thầy truyền dạy,  những điều thầy dạy bảo đối với Nhan Hồi đều là chân lý, đều thiêng liêng. Ông “ mặc  nhi thức chi”  một cách tuyệt đối và tiếp nhận trong mọi trường hợp, ngấm một chiều và ngấm một cách tự nhiên, chỉ có hỏi thêm mà không thắc mắc. Cách tiếp thu của ông khiến nhiều người tưởng ông  là người ngu. Ông không hề thắc mắc hay phản ứng gì. Có người cho rằng có thể năng lực trác việt đã khiến ông tiếp nhận được và thấu triệt được tất thảy mọi sự truyền giảng phức tạp  nhất từ thầy, tương tự như cặp thầy trò Thích Ca – Ca Diếp với  câu chuyện về một nhành hoa bốn ánh mắt, hai nụ cười và một Thiền ngữ nổi tiếng.
 Nhan Hồi  nói về đạo của thầy: “Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu. Phu tử tuần tuần nhiên  thiện dụ nhân, bác ngã dĩ  văn ước ngã dĩ lễ, ký kiệt ngô tài nhi hữu sở lập trác nhĩ. Tuy dục tòng chi, mạt do dã dĩ” ( Luận ngữ. Tử hãn) ( Càng ngẩng trông càng thấy cao, đục đẽo vào càng thấy cứng, vừa thấy đằng trước, thoắt đã đằng sau. Phu tử giỏi dẫn dắt người từng  bước từng bước, lấy văn mã mở mang cho ta, lấy lễ mà ước thúc ta, ta đã vận dụng hết khả năng của mình mà vẫn thấy đạo của thầy sừng sững trước mặt. Ta muốn theo đạo đó, nhưng chắc chỉ được phần nào mà thôi)
 Trong lời Nhan Hồi tán dương đạo của thầy, ta thấy có cả tiếng thở dài bất lực của người học trò vĩ đại này. Nhà nho thường nói tới tinh thần Khổng Nhan lạc xứ, tức cái vui, cái lạc thú của Nho gia trong việc tu thân dưỡng tâm, trong cuộc sống nho môn đạm bạc, nhưng ở đây rõ ràng không phải lúc nào họ cũng vui, lúc nào cũng lạc cả, thế mới là cuộc đời. Chữ Lạc của Nho là nói về thái độ sống, là nói tới việc tu dưỡng, còn ở đây nhìn từ góc độ nhìn nhận và đối đãi với học thuyết của thầy, Nhan hồi có chút bi kịch, bi kịch của học trò bị ngợp trong học thuyết của thầy. Ông  cố gắng biến mình thành một hiện hữu sống của đạo đức theo mẫu mực mà Khổng tử mong muốn. Khổng tử khen Nhan Hồi là người hiếu học, chỉ duy nhất ông được khen như vậy. Khi Nhan Hồi chết, Khổng tử nói hiện không còn ai hiếu học nữa.     
Ông Trình Hạo đời Tống ca ngợi việc học của Nhan Hồi[1], kiên quyết cho rằng nếu ông không chết sớm thì rất có thể  sự học sẽ đưa ông tới sự chuyển hóa mà thành thánh nhân, tiếc rằng ông đã không sống được tới ngày đó, vì thế ông chỉ là bậc hiền giả mà thôi.  Nếu ông sống tiếp, có thể ông vẫn cứ thành thánh nhân với mẫu mực đạo đức tuyệt vời. Ta cũng không  biết  sau khi thành thánh nhân trông ông có tựa kẻ ngu nữa hay không. Nhưng cứ giả sử như Nhan Hồi  không chết sớm, sự tôn sùng đạo của thầy đã khiến ông không mảy may nghi ngờ, và vì thế khó có thể phát triển được học thuyết của thầy. Đã thấy đạo của thầy tận thiện tận mỹ thì hẳn sẽ không nghĩ tới việc thêm vào hay sửa đổi cho tốt thêm. 
 Khác với Nhan Hồi, Tăng Sâm lại là một mô thức khác hẳn. Ông  không được khen ngợi như Nhan Hồi, nhưng cũng được Khổng tử coi là học trò giỏi và thường giảng giải cho những điều cốt yếu. Tăng Sâm  không bị choáng ngợp trước thuyết của thầy, ông luôn tỏ ra chủ động nắm được điều cốt yếu, then chốt, điểm quán xuyết học thuyết của thầy. Luận ngữ  còn kể lại, một lần Khổng tử nói với Tăng Sâm rằng: “ Sâm hồ, ngô đạo nhất dĩ quán chi”. Tăng Sâm chỉ  khẽ “ dạ”. Khi thầy Khổng đi ra, những người khác hỏi Tăng Sâm rằng thầy vừa nói điều gì, Tăng Sâm  trả lời, đạo của thầy chẳng qua chỉ là  trung thứ mà thôi. Tăng Sâm đã liễu ngộ được điểm cốt yếu của đạo thầy.
Loại thái độ thứ hai:  Mới được thầy truyền cho chút ít đã thấy mình cũng chẳng kém ai, cũng vĩ đại rồi, tri thức nhân loại chỉ có chút thế mà thôi, ông ấy thì chẳng có gì là lớn cả. Nếu thực tế đạo của thầy chẳng ra gì thật thì không có gì phải bàn, nhưng cũng nên bày tỏ sự tôn trọng mà tìm người khác giỏi hơn để mà học. Nguy hiểm thực sự là kẻ được học người giỏi mà không thấy thầy hay, khinh mạn cho rằng mình hơn người, hơn thầy rồi.  
          Thái độ cầu học và đối đãi với sở học của thầy quả là không dễ dàng gì. Sùng kính thái quá mà thấy mình nhỏ bé đi cũng không nên. Khinh mạn, tự cao mà không biết tôn trọng thầy đương nhiên là khiếm khuyết về cả đạo đức lẫn trí tuệ.  Kẻ minh triết có lẽ là cần sáng suốt tự thủ, thầy dẫu thật giỏi cũng nên cố học, cố tìm cái gì còn có thể bổ khuyết để cầu tiến, thầy chưa thật giỏi thì cũng phải biết trân trọng những gì mà thầy đã tạo ra để làm thêm, để đi tiếp. Trân trọng những giá trị tri thức, tinh thần dù nhiều dù ít mà thế hệ trước tạo dựng, coi đó như nhũng viên gạch đặt nền cho ta cao thêm. Đương nhiên, làm được thế trò cũng không thể là loại xoàng, thầy cũng phải là người đáng làm thầy, đủ để dẫn dắt học trò.
Làm thầy khó, làm trò cũng chẳng dễ
                             (11.2011. Nhân đọc lại bài Nhan tử sở hiếu hà học luận )



[1] Xem :" Cận thư lục - Nhan tử sở hiếu hà học luận"

Thursday, September 29, 2011

TƯỞNG DỄ HÓA KHÓ


Có một học giả nước ngoài nhờ chọn 03 tác phẩm Hán văn có tính chất kinh điển trong kho di sản Hán văn Việt Nam, tiêu biểu cho 3 lĩnh vực văn- sử - triết để phục vụ cho chương trình nghiên cứu và giảng dạy của cá nhân ông ta. Nghe nói tôi nhận lời luôn vì nghĩ thư tịch Hán văn nước nhà phong phú tới độ “hãn ngưu xung đống”, số lượng lưu giữ kể tới hàng vạn đơn vị tư liệu, chọn lấy 03 tác phẩm có gì khó. Với ý thức mong muốn truyền bá giới thiệu văn hóa nước nhà cho học giả thế giới tôi hăng hái tiến hành công việc này luôn.
Bắt tay vào việc mới thấy nó không dễ chút nào.  Về sử học, việc chọn còn tương đối thuận lợi,  có thể chọn  Đại Việt sử ký toàn thư, một tác phẩm quan trọng và mẫu mực cho nhiều phương diện của sử học Việt Nam truyền thống, từ phương diện  sử sự, sử bút, sử luận, sử bình, và tư tưởng sử. Nó cũng thể hiện những vấn đề lớn của lịch sử dân tộc trong một thời gian dài. Chỉ có điều tác phẩm này lại không bao quát hết được khoảng thời gian vài thế kỷ cuối của thời kỳ trung đại. Vì lý do đó, có tính tới việc chọn tác phẩm  Việt sử thông giám cương mục, soạn triều Nguyễn là tác phẩm có độ bao quát cao hơn, như vậy đối với tác phẩm sử, công việc chỉ còn là cân nhắc trong một vài tác phẩm.
          Với tác phẩm văn chương chữ Hán, câu chuyện có khó hơn một bậc. Phần chiếm tỷ lệ lớn nhất trong kho thư tịch cổ của Việt Nam là văn chương. Trong đó có cả các nhóm vận văn, tản văn, biền văn, cùng các loại tạp văn tạp ký khác. Thơ phú chiếm số lượng lớn nhất. Mỗi loại tác phẩm có giá trị riêng, mỗi loại mỗi vẻ, chỉ có điều khó tìm được tác phẩm nào mười phân vẹn mười.
          Việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhân sĩ thế giới chiêm ngưỡng phải chú ý tới nhiều phương diện của tác phẩm,  nghệ thuật văn chương phải xuất sắc, để cho thế giới thấy cái tài hoa của cha ông, so với văn nhân Đường, Tống phải không có kém gì thậm chí phải  hy vọng nó có phần ưu trội. Về mặt nội dung nó phải thể hiện được cái sâu sắc tinh tế của tâm hồn người Việt, khí thế của dân tộc, tinh thần Việt… Theo hướng đó,  chỉ có vài tập thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, hoặc Nguyễn Du là tiêu biểu, nếu chọn văn xuôi nghệ thuật, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ( Tự) là ứng viên nổi bật. Tuy nhiên, chọn  tác phẩm nào cũng thấy  có cái  ổn cái chưa ổn, sự phân vân vẫn còn chưa hết. Tuy nhiên việc vẫn là khả dĩ.
          Việc khó nhất thuộc về việc chọn tác phẩm triết học. Người Trung Quốc khi chọn 01 tác phẩm tiêu biểu có cái khó riêng do họ nhiều quá, nhưng theo thông tin tôi biết, tác phẩm Chu Dịch được chọn là tác phẩm triết học số một của triết học truyền thống Trung Quốc. Soát toàn kho thư tịch, chọn chưa ra được tác phẩm nào tiêu biểu cho nền triết học Việt Nam. Những tác phẩm có thể điểm danh gồm: Khóa hư lục của Trần Thái Tông; Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung Thượng sĩ, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm; Dịch kinh phu thuyết của Lê Quý Đôn; Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn…Trong những tác phẩm trên chọn một công trình nào cũng thấy chưa ổn.
Khó quá, khó quá…
                                                Tháng 9 năm 2011